CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Cần Giờ Vị trí địa lý Cần Giờ là huyện ven biển duy nhất của TPHCM, nằm phía Đông Nam thành phố, cách trung tâm thành phố 50 km. Cần Giờ có hơn 20 km bờ biển, có các cửa sông lớn của các con sông Lòng Tàu, Cái Mép, Gò Gia, Thị Vải, Soài Rạp, Đồng Tranh. Tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 70.445,34ha, chiếm 1/3 tổng diện tích toàn Thành phố. Huyện Cần Giờ có 01 thị trấn là Cần Thạnh và 06 xã là Bình Khánh, Tam Thôn Hiệp, An Thới Đông, Long Hòa, Lý Nhơn và Thạnh An.
Ranh giới hành chính được xác định như sau: Phía Đông giáp huyện Long Thành thuộc tỉnh Đồng Nai Phía Tây giáp huyện Nhà Bè TPHCM huyện Cần Giuộc tỉnh Long An và tỉnh Tiền Giang. Phía Nam giáp Biển Đông. Phía Bắc giáp huyện Nhà Bè TPHCM và huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai.1 Địa giới hành chính huyện Cần Giờ Đặc điểm địa hình Huyện Cần Giờ có địa hình tương đối phẳng và thấp, bị chia cắt bởi rất nhiều sông rạch. Hướng đổ dốc không rõ rệt.
Độ dốc mặt đất rất nhỏ dưới 0,1%. Cao độ mặt đất thay đổi từ 2,3 m (khu vực Cần Thạnh) xuống đến dưới 0,5 m (khu vực rừng ngập mặn). Khu vực có cấu tạo nền đất là phù sa mới, thành phần chủ yếu là sét, sét pha trộn lẫn một ít tạp chất hữu cơ, thường có màu đen, xám đen. Sức chịu tải của nền đất thấp, nhỏ hơn 0,7 kg/cm2.
Mực nước ngầm không áp nông, cách mặt đất từ 0,5 m đến 0,8m. Đất mặn phèn tiềm tàng chiếm 85,2% tổng diện tích đất, chiều sâu xuất hiện sinh phèn thay đổi theo vùng. Khu sử dụng đất phải thật thận trọng, không xáo trộn tầng sinh phèn lên mặt, không bố trí đại trà mà phải tuỳ thuộc vào tính chất 7 và khả năng thích nghi của từng loại cây trồng. Tổng quát vùng phía Nam nên phục hồi và bảo vệ rừng ngập mặn.
Phía Bắc có thể sử dụng vào mục tiêu nông nghiệp hoặc nông lâm kết hợp nhưng phải điều tra cẩn thận khi bố trí mùa vụ và cây con. Đặc điểm khí hậu Khí hậu huyện Cần Giờ có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ cao và ổn định, trung bình tháng từ 25,5-290C, biến động nhiệt độ trung bình ngày từ 5-70C. Số giờ nắng trung bình đạt trên 5 giờ đến gần 9 giờ/ngày, lượng bức xạ phong phú, trung bình đạt từ 10-14 kcal/m2, cường độ bức xạ thay đổi qua các mùa không đáng kể.
Độ ẩm trung bình từ 73% đến 85%, độ bốc hơi từ 3,5 đến 6 mm/ngày, trung bình 5 mm/ngày, cao nhất 8 mm/ngày. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.402 mm, trong mùa mưa lượng mưa tháng thấp nhất khoảng 100 mm, tháng nhiều nhất 240mm. Mùa mưa hướng gió chính là Tây – Tây Nam, mùa khô hướng gió Bắc – Đông Bắc. [8] Đặc điểm thủy văn Khu vực chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều trên biển Đông.
Theo số liệu quan trắc tại trạm Nhà Bè, mực nước cao tính toán từ 1,32 m đến 1,39 m. Cần Giờ nằm trong lưu vực sông Đồng Nai, chế độ thủy văn của TPHCM chịu ảnh hưởng chủ yếu của sông Đồng Nai, Sài Gòn và Vàm Cỏ. Khu vực chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều trên biển Đông. Theo số liệu quan trắc tại trạm Nhà Bè, mực nước cao nhất (Hmax) và mực nước thấp nhất (Hmin) tương ứng với các tần suất khác nhau như sau: 8 Bảng 1.1 Mực nước tại trạm Nhà Bè năm 2017 Tần suất 1% 10% 25% 50% 75% 90% Hmax 1,51 1,39 1,34 1,3 1,27 1,24 Hmin -2,03 -2,22 -2,32 -2,41 -2,49 -2,64 Mực nước cao tính toán từ 1,32 m đến 1,39 m.
Cần Giờ nằm trong lưu vực sông Đồng Nai, chế độ thủy văn của TPHCM chịu ảnh hưởng chủ yếu của sông Đồng Nai, Sài Gòn và Vàm Cỏ.2 Hệ thống sông ngòi đổ ra ở biển Cần Giờ Đặc điểm hải văn Bờ biển có chiều dài khoảng 20 km dọc bờ biển từ mũi Cần Thạnh đến mũi Đồng Tranh. Hàng năm chịu ảnh hưởng nhiều của chế độ dòng triều. Vùng biển Cần Giờ bao gồm vùng biển trước các cửa sông, vịnh Gành Rái, vịnh Đồng Tranh và vùng bãi triều Cần Giờ. Vùng biển trước cửa sông có bờ biển chạy dọc theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, chia làm hai phần: từ Vũng Tàu lên Hàm 9 Tân, phía Tây Nam từ Vũng Tàu đến Gò Công.
Cửa sông ở đây nông dần xuống phía Nam do ảnh hưởng bồi đắp cát từ đất liền. Vịnh Gành Rái ăn sâu vào đất liền, phía Đông giáp Vũng Tàu, phía tây là Cần Giờ và vùng bãi cạn, phía Nam là biển Đông, phía bắc giáp đảo Long Sơn. Đổ nước vào vịnh là ba con sông lớn: sông Ngã Bãy, sông Thị Vãi và sông Dinh. Đường bờ bao quanh vịnh khúc khuỷu và dốc.
Vịnh Đồng Tranh, đổ vào vùng này là sông Soài Rạp và sông Đồng Tranh. Nhìn chung địa hình toàn vùng có hướng dốc từ Bắc xuống Nam, theo hướng các dòng sông và hướng dốc từ Tây sang Đông, từ bờ ra biển. Đường bờ tương đối đơn giản, thoải phần lớn là các bãi bồi.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội huyện Cần Giờ Theo số liệu thống kê của huyện Cần Giờ, dân số toàn huyện năm 2018 là 70.107 người, trong đó dân số thị trấn Cần Thạnh là 12.087 người, dân số trung bình nam là 35. Mật độ dân số bình quân trên địa bàn huyện là 100 người/km2, ở mức rất thấp so với mật độ dân cư bình quân toàn thành phố (4.215 người/km2), sống tập trung thành các cụm dân cư [9].
Từ năm 2010 đến 2015, kinh tế huyện Cần Giờ có bước phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khá, bình quân 10%/năm, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch đúng hướng, phát huy lợi thế tiềm năng của huyện; các nguồn lực xã hội được phát huy, kết cấu hạ tầng kỹ thuật từng bước được hoàn chỉnh đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội; đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được cải thiện, góp phần thực hiện tốt mục tiêu giảm hộ nghèo trên địa bàn; tài nguyên thiên nhiên, hệ sinh thái rừng ngập mặn được quản lý, bảo vệ tốt, tạo môi trường cảnh quan thúc đẩy ngành du lịch sinh thái phát triển; quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản: Thực hiện chương trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ 10 thuật vào sản xuất từng bước nâng cao năng suất, chất lượng; chuyển đổi có hiệu quả đất nông nghiệp có năng suất thấp sang nuôi trồng thủy sản; cơ cấu sản phẩm trong nội bộ các ngành có sự chuyển dịch theo hướng tăng sản lượng các sản phẩm có giá trị. Giá trị sản xuất nông - lâm- ngư nghiệp đạt bình quân 2.000 tỷ đồng/năm, tăng 11,1%/năm. Giá trị sản xuất bình quân bình quân đạt gần 300 triệu đồng/ha, tăng 13%/năm giai đoạn 2010 - 2015.
Sản xuất thủy sản là ngành kinh tế chủ lực, trong đó lĩnh vực nuôi trồng đối tượng nuôi chủ lực là con tôm, nghêu, hàu. Ngoài ra một số đối tượng nuôi mới được phát triển: cua, cá chẽm, ốc hương đã tạo sản phẩm thủy sản phong phú. Về nuôi tôm: Có sự chuyển đổi đối tượng, mô hình sản xuất, từ nuôi tôm sú sang nuôi tôm thẻ chân trắng; diện tích nuôi mô hình thâm canh ngày càng tăng. Giai đoạn 2010 - 2015, nhiều mô hình nuôi tôm thâm canh được triển khai như: mô hình nuôi tôm theo quy trình VietGAP, nuôi tôm theo công nghệ Việt Úc, nuôi tôm hữu cơ.
Hàng năm, diện tích mặt nước thả nuôi trên 6.000 ha, trong đó: mô hình nuôi thâm canh 2.500 ha, nuôi luân canh tôm - lúa, tôm - muối là 536 ha, còn lại là nuôi tôm quảng canh cải tiến. Năm 2015 diện tích nuôi tôm sú 3.489 ha so năm 2010 (năm 2010 là 4.741 ha); nuôi tôm thẻ 2.039 ha, tăng 758,5 ha. Diện tích nuôi thâm canh 2. Sản lượng thu hoạch trên 12.
Nuôi nhuyễn thể, đối tượng chủ lực là nghêu, sò, ốc hương và hàu tập trung chủ yếu tại thị trấn Cần Thạnh, Long Hòa, Thạnh An và Lý Nhơn. Diện tích mặt nước bãi bồi ven sông, ven biển thả nuôi nhuyễn thể là 1.122 ha; trong đó nuôi nghêu, sò: 939 ha, nuôi hàu: 183 ha. Sản lượng bình quân 9.800 tấn/năm, tăng 36,4%/năm, trong đó, mô hình nuôi hàu phát triển mạnh (diện tích hiện tại, sản lượng đạt bình quân trên 5. Ngoài ra các đối tượng nuôi thủy hải sản khác là nuôi cua, nuôi cá chẽm, cá dứa, cá bớp, diện tích khoảng 100 ha.
Sản lượng bình quân 275 tấn/năm. 11 Khai thác thủy sản: Còn gặp nhiêu khó khăn do trữ lượng thủy sản ngày càng giảm, các phương tiện đánh bắt có công suất nhỏ, ngư trường hoạt động chủ yếu gần bờ, ven bờ. Đến cuối năm 2015, toàn huyện có 41 phương tiện khai thác công suất trên 90CV và 1.009 phương tiện khai thác ven bờ. Ngư trường hoạt động chủ yếu ven bờ, các kênh rạch trên địa bàn huyện Cần Giờ.
Sản lượng khai thác bình quân 20. Nghề đánh bắt xa bờ phát triển chậm, hoạt động không thường xuyên, hiệu quả thấp. Đánh bắt ven bờ hoạt động thường xuyên và có hiệu quả; cung cấp ổn định nguồn thủy sản tiêu thụ hàng ngày và nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến; nhiều phương tiện sau thời gian hoạt động có tích lũy, đã đầu tư nâng cấp, cải tạo phương tiện, máy móc và thay đổi công cụ đánh bắt phù hợp với thời vụ khai thác. Sản xuất nông nghiệp: Chủ yếu ở lĩnh vực chăn nuôi, đặc biệt là mô hình nuôi chim yến lấy tổ.
Hiện nay, toàn huyện có 231 nhà nuôi chim yến; trong đó có 138 căn cho thu hoạch. Sản lượng thu hoạch bình quân 2,5 tấn/năm, tăng bình quân 61%/năm, đóng góp trên 90% giá trị của lĩnh vực chăn nuôi. Trồng trọt sản phẩm chủ lực là cây ăn trái (xoài) với diện tích 235 ha tập trung chủ yếu tại thị trấn Cần Thạnh và xã Long Hòa; trong đó trồng xoài theo quy trình VietGAP là 13,8 ha năng suất bình quân từ 7 - 8 tấn/ha. Diện tích gieo trồng lúa không đáng kể (năm 2015 đưa vào sản xuất 445 ha) và chủ yếu là 01 vụ lúa mùa theo mô hình luân canh tôm - lúa; năng suất bình quân 3 tấn/ha, hiệu quả sản xuất thấp.