Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về QLNN trong hoạt động kinh doanh địch vụ karaoke Chương 2. Thực trang cí 1 tác QLNN đối với hoạt động kinh doanh dich vụ karaoke trên địa bàn tinh Lạng Sơn Chương 3. Giải pháp tăng cường công tác QUNN đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke trên địa bản tỉnh Lang Son CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE QUAN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT DONG KINH DOANH DỊCH VỤ KARAOKE.
Khái quát chung về Karaoke 1.1 Quá trình ra đời và phát triển của Karaoke Karaoke (222327) là một hình thức giải tí bằng cách đệm nhạc theo lời bai hát trên man hình. Từ karaoke có gốc tir chữ: KARA (# nghĩa là khống - cũng như trong môn võ karate - môn võ tay không) và OKE (‡—# EZ viết tit của chữ Okesutora nghĩa Ũ jan nhạc”, có gốc ừ iếng Anh orchestra) tron tếng Nhất Video Karaoke cấu tao bởi hai phin: phần nhạc nền được ghi âm trước được phối đồng bộ với phần chữ (lời bai hat); Phần xưởng âm dành cho người biểu diễn, cằm. microphone bát theo những dòng chữ lời bài ht hiện trên man hình trên nén nhạc giai điệu của bài hát Karaoke do ông Inoue Daisuke người Nhật phát minh vào năm 1971, khỉ ông 31 tuổi, là một người chơi keyboard trong một câu lạc bộ; đến năm 2004, Inoue được to giải ig Nobel về hòa bình do phát minh này, Nguồn gốc của karaoke ở Nhật Bản không thể tách rồi khỏi các quần bar chơi piano và guitar truyền thống vốn là địa điểm giải trí chủ yếu cña các doanh nhân Nhật từ nhiều năm về tước, Karaoke lẫn đầu tiên được biết đến tại một quầy bar ở thành phố Kobe của Nhật Bản, là hình thức giải trí chủ yéu cho người kinh doanh. Sau một thời gian, karaoke phát triển ở nhiều quấn bar tn toàn quốc, nhờ sự phát triển công nghệ, và kinh doanh, họ đã phát triển thành “hộp karaoke”; Từ hình thức.
băng đệm một bài hit nỗi ting, karaoke đã được phát iển thành các đĩa nhỏ gọn, cổ thể xác định vị trí bắt đầu của một bài hit ngay lập tức, tăng cường các hình ảnh trong: video để tgo ra một biu không khí thích hợp cho mỗi bài hit và được hiễ thị rên một min hình ti cùng với các từ lõi bài hát. Sau đó, Karaoke din đổi mới công nghệ hiện đại như đĩa video, đĩa laser, và đồ họa CD; Karaoke đã phát triển thành một ngành công nghiệp giải trí lớn tại Nhật Bản. Các ja đình sử dụng karaoke cũng đã tre nên phổ biến “Tuy nhiên, vì hẳu hét các ngôi nhà Nhật Bản được xây dựng sit nhau, ất liệu bằng gỗ, cách âm kém, hoạt động karaoke gây ồn ào, khó chịu cho những người hàng xóm. vio ban đêm.
Do vậy, các doanh nghiệp tạo ra các "hộp karaoke”, lắp đặt bên trong một cơ sở, có cửa đồng, cách âm. Hộp karaoke đầu tiền xuất hiện vào năm 1984 tại một cánh đồng lúa ở vùng nông thôn của tính Okayama, phía Tây của khu vực Kansai (nay là Kinki), Nhật Bản. Nó được xây dựng cải tí từ một chiếc xe vận tải hàng hóa. KẾ từ đó, các hộp karaoke được dựng khấp đất nước Nhật Bản; trong khu vực đồ thi, phòng karaoke được xây dựng cha thành nhiều khoang, cách âm trong một tỏa nhà riêng biệt, Karaoke trở thành dịch vụ giải trí phổ biển rộng rã trong tắt cả các ting lớp, xã hội [1].
LL2 Vai trò của Karaoke Về góc độ kinh tế: hoạt động kinh doanh địch vụ karaoke mang lại việc làm và thu nhập cho hing chục ngắn lao động mà chủ yếu là lao động phổ thông; kinh doanh dịch. vụ karaoke đồng góp những khoản nhất định vào nguồn thu thuế hing năm của Chính. phủ, góp phần phân phối thu nhập trong xã hội, thúc đẩy mạnh mẽ tới ngành du lịch. VỀ góc độ văn hóa: Xu hướng phát trién nhanh của xã hội hiện đại làm cho con người cảng phải chịu ngày càng nhiễu áp lực trong công việc, Karaoke là hoạt động văn hóa lành mạnh, giúp con người thư giãn, giải tỏa những căng thăng, tăng chất lượng cuộc.
sống, ái tạo sức lao động và sing tạo 1. QLNN trong hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke 12.1 Khái niệm về QLNN đối v6i hoạt động kinh doanh dich vụ karaoke (Quan lý là một phạm tr đãxuất hiện từ trước khi có Nhà nước. Quản lý ở khía cạnh ‘quan lý xã hội là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để đạt được mục đích, ý chí của người quản lý và phù hợp với quy luật khách quan. Quản lý là một dạng hoạt động có mục dich “của chủ thể quản lý tác động lên đối tượng nhằm thực hiện mục tiêu nhất định thông ‘qua cac nguyên tắc, các hình thức, các phương pháp quản lý phủ hợp.
Quản lý bao giờ ‘ding mang tính mục đích, tính tổ chức và tính hiệu quả. Quản lý ở tằm vĩ mô chính là QLNN. Như vậy, QLNN là hoạt động có mục tiêu 19 rằng, cổ chiến lược và cố kế hoạch để thực hiện mục tiêu. Dặc điểm này đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải xác định mục tiêu, xây dựng chiến lược và kế hoạch hoạt động của mình nhằm đạt các mục.
tiêu đã xc định tên cơ si chiến lược, kế hoạch của cắp trên và đường lỗi, chính sich của Đảng. QLNN là hoạt động dựa trên những quy định chat che của pháp luật, đồng thời là hoạt động có tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong thực tiễn diéu hành, quan lý. Trên cơ sở những quy định của pháp luật và mục tiga, định hướng, kế hoạch của cấp trên và đường lối, chính sách của Đảng. QLNN được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước và sự tham gia của nhân dân hoặc tổ chức xã bội được nhà nước giao quyền thực hiện chức năng nhà nước.
QLNN được hiểu là sự quản lý cô tinh chất nhà nước, do nhà nước thực hiện thông qua bộ máy nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước. QLNN khác với dang quản lý của các chủ thể khác. Các dang quan lý của các chủ thé khác như. Công đoàn, Doin thánh niên.
chỉ ding phương thức giáo dục vận động quần chúng chứ không dùng quyền lực pháp luật của nhà nước để điều chỉnh các quan hệ quản lý. (Quyên lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phổi hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ở Việt Nam, quyển lập pháp thuộc cơ quan Quốc hội, quyển hành pháp thuộc cơ quan Chính phủ, quyền tư pháp thuộc hệ thống cơ quan Téa án. QLNN dược thể hiện ở quyền hành pháp, bộ máy hành pháp chứ không phải của toản bộ máy nhà nước.
(Quyền hành pháp là quyền thi hành pháp luật, thuộc cơ quan Chính phủ, bao gdm hai quyển là quyển lập quy và quyền hành chính. Quyền lập quy à quyền ban hành các văn bản pháp quy (cúc văn bản dưới luật) nhằm cụ thể hóa luật và hướng dẫn thực hiện luật “Các văn bản pháp quy có giá trị pháp lý nhằm điều chinh những mối quan hệ kinh tế xã hội thuộc phạm vi quyền hình pháp. Quyén hành chín là quyển tổ chức bộ may quản lý sắc công việc hing ngày, đều hành các hoạt động kính tế xã hội, đưa pháp luật vào cuộc ig, nhằm giữ trật tự an ninh xã hội, phục vụ lợi ích cộng đồng và công dân, sử dụng. có hiệu quả nguồn tai chính va tai sin công để phat triển đất nước có hiệu quả Hiển pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2013) quy định rõ: Chính phủ là cơ quan chip hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hỏa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thục hiện quyỂn hành pháp tối cao của Nhà nước, thực hiện chức năng QUNN trên mọi lĩnh vực.
QLNN là sự kết hợp đồng bộ giữa ngành, lãnh thổ trong phạm vi cả nước. Các bộ, cơ quan ngang Bộ là cơ quan của Chính phủ, có chức năng QLNN đối với một số ngành, lĩnh vực nhất định theo quy định của pháp luật và sự phân công của Chính phú, trong phạm vi cả nước. Các tính, thành pho thuộc Trung. ương có chức năng QLNN đối với moi lĩnh vực hoạt động trên phạm vi địa bản của mình quản lý theo sự chỉ đạo của các cơ quan Trung ương.
Vì vậy, hành chính nhà nước với nghĩa QLNN chi bao gồm hoại động của bộ máy hành pháp chữ không phải toàn bộ bộ máy nhà nước, QLNN là quá trình tác động liên tục, có tổ chức, định hướng của chủ thể quản lý trên ‘co sở pháp luật, được thực hiện thông qua bộ máy hành chính nhà nước, Đó là sự tác dong, điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước trong quá trình vận hành xã hội và hành vi của công dn nhằm duy tr tt tự an ninh và phát kinh tế xã hội theo mục đích đề. ra, Điều này đòi hỏi chủ thé quan lý phải lựa chon cách thức, công cụ quản ý phù hợp. “Có thể n chủ thể quản lý là thành tổ rắt quan trong trong QLNN. QLNN có những đặc điểm là: mang tinh quyền lực đặc biệt, tinh tổ chức cao, có mục tiêu chiến lược, chương trình và kế hoạch thực hiện mục tiêu; có tính chủ động, sing tạo vả linh hoạt trong điều hành, phối hợp và phát huy mọi lực lượng; có tính liên tục và thống nhất.
Dé có được điều đó, bộ máy nhà nước phải ồn định, thống nhất từ Trung ương đến địa. phương, hệ thống pháp luật phải đồng bộ và hoàn thiện, phủ hợp với yêu cầu thực tiễn khách quan. Như „ QUNN l tác động liên tục, có ổ chúc, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống luật pháp và bộ máy của mình, nhằm điều chỉnh các hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội, mọi hinh vi của công dân với mục đích duy trì và phát triển xã hội, bảo toản và cũng cổ quyŠn lục của nhà nước “Trên cơ sở khái niệm về “QLNN” ta có thể hiểu: Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke là sự lắc động liên tụ, cổ ổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống luật pháp và bộ máy của mình, nhằm điều chỉnh các hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân ên quan đến hoạt động kinh doanh địch vụ karaoke nhằm: Định hướng, tạo điều kiện tổ chức điều hành, giám sắt, kiểm tr, làm cho karaoke phát triển theo hướng hải hòa và nhịp nhảng, thỏa mãn nhu cầu văn hóa tinh thần cho công chúng, giúp xã hội không ngimg phát triển.