CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu liên quan về quản lý bảo vệ HST RNM 1. Khái niệm RNM Rừng ngập mặn là một dạng rừng quan trọng phát triển trên vùng đất ngập nước dọc theo các bờ biển ở những khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới. Rừng ngập mặn không những có giá trị về cung cấp lâm sản như gỗ, than, củi, tanin, thức ăn.mà còn là nơi cư ngụ của nhiều hải sản, chim và nhiều động vật khác [13].
Ngoài ra, rừng ngập mặn còn có vai trò to lớn trong việc bảo vệ bờ biển, bờ sông, hạn chế xói mòn, sạt lở đất, điều hoà khí hậu.1: Sơ đồ diễn thế sinh thái rừng ngập mặn [13] Diễn thế nguyên sinh rừng ngập mặn là một quá trình phục hồi bằng tái sinh tự nhiên của môi trường rừng ven biển. Quá trình này thực hiện nhờ vào những quy luật vận động của hàng loạt các chu trình tự nhiên ven biển được kết hợp với nhau, đan xen và thúc đẩy lẫn nhau. Chẳng hạn chu trình truyền hạt giống nhờ chế độ nhật triều ven biển đến những vùng đất ướt do triều tạo nên ở những thời điểm nhất định. Nhưng để truyền hạt giống có hiệu quả trên những vùng chế độ ngập triều khác nhau, hiện tượng “ thai sinh” (trụ mầm) của một số loài cây họ Đước, họ Mắm, các họ này là thành phần chủ yếu của hệ thực vật ven biển miền Bắc.
Nhờ hiện tượng này mà các loài quả miễn 6 là có thể bám vào đất là có thể trở thành cây. Nghĩa là để có rừng ngập mặn ven biển, môi trường sinh thái tổng thể đã là một quá trình thống nhất [2]. Chính vì vậy, rừng ngập mặn được coi là nguồn tài nguyên quan trọng cần được bảo vệ và phát triển. Tổng quan về HST RNM trên thế giới Hiện nay RNM phân bố trên khoảng 123 Quốc gia và vùng lãnh thổ, với diện tích 150.000 km2, trong đó lớn nhất là Indonexia 21%; Braxin 9%, Úc 7%[24].bất chấp những nỗ lực phục hồi ở một số nước thì diện tích RNM vẫn đang mất dần với tốc độ gấp 3 - 4 lần so với rừng trên đất liền (35.500 km2 diện tích RNM trên thế giới bao gồm cả đất liền và ngoài biển đã bị mất từ năm 1980).
Trong 3 thập kỷ qua, có đến 1/5 RNM của thế giới đã biến mất, mặc dù tốc độ phá RNM đã giảm 0,7% hàng năm. Nguy cơ tiếp tục nuôi tôm ồ ạt và phá hủy cảnh quan ven biển thì có thể gây ra sự đe dọa về kinh tế cũng như môi trường sinh thái. Nghiên cứu ước lượng mỗi hecta RNM sẽ tạo ra nguồn thu từ 2000 - 9000 USD nhiều hơn so với lợi nhuận từ việc nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp và du lịch. Đây là nguyên nhân khiến liên hợp quốc lo ngại RNM biến mất ngày càng nhiều [24].
Liên Hiệp Quốc ước tính các loài ngập mặn liên quan đến 30% tổng thu nhập ngành đánh bắt cá và gần 100% của ngành đánh bắt tôm ở Đông Nam Á. RNM và các loài liên quan tại Queensland (Úc) được cho là tạo nên 75% thu nhập ngành thủy sản thương mại. Khía cạnh lâm nghiệp của RNM cũng rất quan trọng về kinh tế. Cây thân gỗ mọc dày đặc, khả năng chống thấm và mối mọt cao.
"Điều hiếm có là nó cho năng suất cao nên bạn có thể thu hoạch quay vòng liên tục"[10]. Như vậy có thể thấy rằng, HST RNM trên thế giới phân bố không đồng đều, những nơi tập trung nhiều RNM thường có khí hậu và địa hình thuận lợi. Tốc độ suy thoái RNM cũng khác nhau tại các nơi trên thế giới và nguyên nhân chủ yếu vẫn là do quá trình đô thị hóa, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và những hoạt động xâm hại từ con người. Những tổ chức về môi trường và HST trên thế giới cũng đang rất nỗ lực trong việc bảo vệ và ngăn chặn sự suy thoái RMN.
Tuy nhiên để phát triển và sử dụng bền 7 vững HST RNM cần có sự chung tay của cả cộng đồng cũng như ý thức, trách nhiệm của mỗi con người trên trái đất này. Phân bố RNM ở Việt Nam Việt Nam có hình chữ S với một mặt phía Đông giáp biển vì vậy diện tích đất ngập nước ven biển rất lớn. Cả nước có 29 tỉnh và thành phố có rừng và đất ngập mặn ven biển chạy từ Móng Cái đến Hà Tiên trong đó: - 5 tỉnh ven biển Bắc Bộ: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Ninh Bình, Nam Định. - 14 tỉnh ven biển miền Trung: từ Thanh Hoá đến Bình Thuận.
- 10 tỉnh ven biển Đông Nam Bộ và Tây Nam: Bà Rịa Vũng Tàu đến Kiên Giang.1: Phân vùng rừng ngập mặn ven biển Vệt Nam [28] Miền Vùng Tiểu vùng Ghi chú Móng Cái- Ba Chẽ Đông bắc Quảng Ba Chẽ- Uông Bí Ven biển Bắc Ninh Uông Bí- Yên Hưng bộ Hệ sông Thái Đồng bắng Bắc Nam Triệu- Văn Úc Bình Bộ Văn Úc- Lạch Trường Hệ sông Hồng Ven biển Lạch Trường- Ròn Bắc trung bộ Ròn- Hải Vân Trung bộ Nam trung bộ Hải Vân- Vũng Tàu Đông Nam Bộ Vũng Tàu- Soài Rạp Ba Nạ 568 km Ven biển Đồng bằng sông Soài Rạp- Mỹ Thạch Đồng bằng Nam Cửu Long, Tây Nam Bộ Mỹ Thạch- Bản Háp Bộ Nam bán đảo Cà Bản Háp- Hà Tiên Mau Rừng ngập mặn phân bố khá đồng đều trải dài suốt từ Bắc vào Nam xuyên suốt ven biển. Ở ven biển đồng bằng Bắc Bộ cũng có những dải RNM trồng từ những năm đầu thế kỷ 20, nhưng vào cuối thế kỷ này hầu hết RNM bị phá để trồng cói xuất khẩu rồi chuyển sang nuôi tôm. Từ năm 1994 đến nay nhờ sự hỗ trợ của Hội Chữ thập đỏ Đan Mạch (DRC) và JRC nên một diện tích khá lớn RNM phục hồi và trồng thêm. Khu Đông Bắc (Quảng Ninh) vào những năm 60 của thế kỷ 20 có khoảng 20.
Do quan niệm của lãnh đạo địa phương cho các dải RNM dạng bụi thấp không phải là rừng mà là đất hoang, nên tình trạng phá RNM bừa bãi để lấy đất sản xuất nông nghiệp, làm ruộng muối và đặc biệt là làm đầm tôm đã làm suy thoái và thu hẹp mạnh 8 diện tích. Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quảng Ninh (2001) thì ở 9 huyện ven biển và hải đảo, từ 1998 đến 2003 đã có 2.375ha chuyển sang nuôi tôm và 134 ha ở thành phố Hạ Long dành cho xây dựng. Từ thế kỷ 20, ở Cà Mau - nơi có diện tích RNM lớn nhất Việt Nam, hầu hết RNM được xếp vào loại rừng sản xuất và khai thác luân kỳ (25-30 năm). Sản phẩm chính là gỗ xây dựng, than đước, vẹt, ta nanh và củi.
Trong chiến tranh hoá học của Mỹ (1962- 1969) hơn 150.000 ha RNM ở Nam Bộ đã bị huỷ diệt (Phan Nguyên Hồng và cs, 1997). Vào những năm 80, khi phong trào nuôi tôm xuất khẩu phát triển mạnh, RNM ở miền Nam đã bị chuyển đổi thành các đầm tôm. Theo tiêu chí của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tỷ lệ diện tích giữa nuôi tôm và rừng là 30% tôm, 70% rừng. Nhưng trên thực tế, tỷ lệ này không được đảm bảo, diện tích nuôi tôm đang ngày càng tăng và diện tích rừng thì đang có xu hướng giảm.
Diễn biến rừng ngập mặn qua các năm từ năm 1943 đến năm 2000, diện tích rừng ngập mặn suy giảm nghiêm trọng. Năm 1943 diện tích RNM là 408500 ha đến năm 1962 còn 290000 ha giảm gần 100000 ha (Hình 1. Như vậy diện tích RNM liên tục suy giảm trong hơn nửa thể kỷ qua. Các nguyên nhân chính là do chiến tranh với việc quân địch sử dụng nhiều loại chất hóa học để hủy diệt các cánh rừng, bom, mìn làm diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng.
Sau khi kết thúc chiến tranh, thì việc phá RNM và đắp bờ kè làm đầm nuôi trồng thủy sản ngăn cản sự lưu thông nước mặn làm chết RNM xảy ra khá phổ biển tại hầu hết các tỉnh có RNM trong toàn quốc. Gió bão, sóng biển tàn phá rừng làm sạt lở. Tại nhiều điểm ven biển hiện tượng sạt lở do sóng biển, hải lưu đặc biệt là do ảnh hưởng của bão đã làm bật gốc cây RNM nhất là rừng mới trồng, rừng trồng bằng trụ mầm. Vấn đề ô nhiễm môi trường cũng là nguyên nhân làm ảnh hưởng đến diện tích RNM, do việc thải các chất rắn, chất lỏng trong sinh hoạt, sản xuất, một số lượng lớn phân hóa học, thuốc trừ sâu dư thừa trong nông nghiệp đã đổ vào sông rạch ảnh hưởng xấu đến RNM.
Ngoài ra còn các nguyên nhân khác như việc khai thác gỗ, củi và tài nguyên thủy sản trong RNM quá mức, chưa có chính sách tạo động lực thu hút người dân và cộng đồng địa phương tham gia vào việc bảo vệ và phát triển RNM. Từ năm 2000 diện tích rừng đã có chuyển biến tích cực, diện tích rừng ngập mặn tăng do việc thực hiện tốt công tác tuyên truyền về vai trò và ý nghĩa của HST RNM nên hiểu 9 biết của người dân được nâng lên và chính sách của nhà nước về quản lý RNM hợp lý, sự quan tâm của các tổ chức quốc tế.2: Diện tích rừng ngập mặn của Việt Nam qua các năm [3] 1. Quản lý rừng bền vững 1. Quản lý Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động.
Như vậy, quản lý là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Trình độ xã hội hóa càng cao, yêu cầu quản lý càng cao và vai trò của nó càng tăng lên [19]. Về nội dung, thuật ngữ “quản lý” có nhiều cách diễn đạt khác nhau.
Với ý nghĩ thông thường, phổ biến thì quản lý có thể hiểu là “hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định” [19]. Quản lý rừng bền vững - Định nghĩa quản lý rừng bền vững: 10 Trong thời gian gần đây, quản lý rừng bền vững (QLRBV) đã trở thành một nguyên tắc đối với quản lý kinh doanh rừng đồng thời cũng là một tiêu chuẩn mà quản lý kinh doanh rừng phải đạt tới. Hiện tại có hai định nghĩa đang được sử dụng ở Việt Nam [19].