CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC VÀ VÙNG NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu 1. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu trong nước Lũ lớn trên thượng nguồn là mối hiểm họa hàng năm đối với Thủ đô Hà Nội và đồng bằng sông Hồng là vùng dân cư có dân cư đông đúc (khoảng 18 triệu người) cũng là vùng kinh tế quan trọng của nước ta. Bởi vậy, phòng chống lũ lụt là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quy hoạch khai thác quản lý hệ thống sông Hồng.
Đồng bằng sông Hồng là vùng kinh tế và dân sinh quan trọng của cả nước nên công tác quy hoạch phòng lũ cho đồng bằng sông Hồng đã được thực hiện trong các dự án và nhiều nghiên cứu khác nhau. Đề tài "Đánh giá khả năng phân lũ sông Đáy và sử dụng lại các khu phân chậm lũ" do 3 cơ quan cùng thực hiện đồng thời (Viện Khí tượng Thủy văn, Trường Đại học Thuỷ lợi, Viện Quy hoạch Thủy lợi). Thành quả: Đề tài đã giải quyết được phần thủy lực hạ lưu của hệ thống sông Hồng - Thái Bình. Xét đến trường hợp vận hành hồ Hoà Bình, Thác Bà, phân lũ sông Đáy và chậm lũ Tam Thanh, Lương Phú, Lương Phú - Quảng Oai.
Đã có tiến hành dự báo thử nghiệm tại Viện Khí tượng Thủy văn, Trường Đại học Thuỷ lợi, Viện Quy hoạch Thủy lợi, tuy nhiên kết quả chưa được đánh giá. Cần nghiên cứu tiếp: Mục tiêu của các đề tài chú trọng vào tính toán mô phỏng lũ để áp dụng cho quy hoạch phòng chống lũ, không chú trọng đến dự báo lũ; Vì đây là mô hình thủy lực không cập nhật được sai số do sự thay đổi địa hình, thay đổi độ nhám lòng sông, cho nên kết quả chưa thể hịên được khả năng dự báo; Không gắn kết với các mô hình thủy văn phía thượng lưu để trở thành một công nghệ dự báo cho toàn hệ thống sông Hồng-Thái Bình. Đề tài "Xây dựng công cụ mô phỏng số phục vụ cho đề xuất, đánh giá và điều hành các phương án phòng chống lũ sông Hồng - Thái Bình" (Viện Cơ học) Thành quả: Đã áp dụng một số các mô hình thủy lực như VRSAP, TL1, TL2, TELEMAC2-D để tính toán thuỷ lực cho hạ lưu hệ thống sông Hồng - Thái Bình, phân lũ sông Đáy và chậm lũ Tam Thanh, Lương Phú, Lương Phú - Quảng Oai. 13 Đề tài đã thử nghiệm các mô hình rất công phu bằng các bài toán mẫu (test cases) để đảm bảo được khả năng áp dụng của các mô hình.
Cần nghiên cứu tiếp: Tương tự như trường hợp ở trên, như tên của đề tài đã nêu rõ, đề tài chỉ chú trọng vào tính toán mô phỏng lũ để áp dụng cho quy hoạch phòng chống lũ, không phải là mô hình dự báo lũ; vì đây là mô hình thủy lực, do đó không cập nhật được sai số do sự thay đổi địa hình, thay đổi độ nhám lòng sông, cho nên kết quả chưa thể hiện được khả năng dự báo; không gắn kết với các mô hình thủy văn phía thượng lưu để trở thành một công nghệ dự báo cho toàn hệ thống sông Hồng-Thái Bình. Đối với sông Hoàng Long, trong các nghiên cứu của Viện Quy hoạch Thủy lợi, đặc biệt là dự án Quy hoạch thủy lợi khu vực Ninh Bình – Bắc Lèn, đã kết luận phải phân lũ vào khu vực Gia Tường – Đức Long (Gia Viễn) và phân lũ vào khu vực Lạc Khoái (Nho Quan-Ninh Bình) khi lũ vượt tiêu chuẩn thiết kế. Tiêu chuẩn chống lũ cho sông Hoàng Long tương đương lũ lịch sử năm 1985, tương ứng tần suất khoảng 2%÷3%, thấp hơn so với hệ thống sông Hồng nên chu kỳ phân lũ của khu vực này ngắn hơn so với sông Hồng. Trong dự án “Quy hoạch sử dụng tổng hợp nguồn nước lưu vực sông Hồng, Thái Bình (2002-2007)” đã rút ra kết luận việc xây dựng đập điều tiết trên sông Đào Nam Định có thể giảm đáng kể mực nước sông Đáy.
Kết quả này cho phép xem xét điều tiết lũ sông Hồng để hỗ trợ cho việc nghiên cứu xóa các khu phân chậm lũ vùng Nho Quan và Gia Viễn của tỉnh Ninh Bình và xem xét việc tạo dòng chảy thường xuyên vào sông Đáy trong thời kỳ mùa lũ. Tuy nhiên, trong dự án này mới dừng lại ở mức độ đánh giá ảnh hưởng của việc xây dựng đập ngăn lũ sông Đào Nam Định và kênh Quần Liêu đến sự giảm thấp mực nước sông Đáy tại Ninh Bình mà không đưa giải pháp về khả năng xóa bỏ các khu chậm lũ. Đối với sông Hoàng Long hiện chưa có những nghiên cứu đầy đủ về xóa bỏ các khu chậm lũ, mặc dù tiêu chuẩn chống lũ cho đê sông Hoàng Long rất thấp so với hệ thống sông Hồng. Kết quả nghiên cứu của các đề tài và dự án trên là những căn cứ cho việc thực hiện những nội dung nghiên cứu của đề tài này.
Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu ngoài nước Thế giới hiện nay đang ở trong thời kỳ biến đổi khí hậu, những trận lũ lớn xuất hiện ngày càng nhiều (Ấn Độ, Banlades, Trung Quốc, Philipin, Mianma, Mỹ,.) đã gây thiệt hại nghiêm trọng về người và của. Thiên tai lũ lụt đang có xu thế gia tăng cả về tần suất lẫn cường độ. Nhiều nhà khoa học, nhiều tổ chức quốc tế đã tập trung nghiên cứu nhằm tìm ra các giải pháp phòng chống và phòng tránh hữu hiệu giảm thiệt hại do lũ lụt gây ra. Đối với các nước phát triển các nghiên cứu về lũ lụt thường gắn với quản lý tài nguyên, môi trường theo lưu vực sông.
Đối với các nước đang phát triển việc dự báo, cảnh báo lũ lụt còn gặp nhiều khó khăn, các nghiên cứu chủ yếu phục vụ cho công tác phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai. Trên thế giới việc nghiên cứu, áp dụng các mô hình thủy văn, thủy lực cho các mục đích trên đã được sử dụng khá phổ biến; nhiều mô hình đã được xây dựng và áp dụng cho dự báo hồ chứa, dự báo lũ cho hệ thống sông, cho công tác qui hoạch phòng lũ. Một số mô hình đã được ứng dụng thực tế trong công tác mô phỏng và dự báo dòng chảy cho các lưu vực sông có thể được liệt kê ra như sau: - Trung tâm khu vực, START Đông Nam á (Southeast Asia START Regional Center) đang xây dựng "Hệ thống dự báo lũ thời gian thực cho lưu vực sông Mê Kông". Hệ thống này được xây dựng dựa trên mô hình thủy văn khu vực có thông số phân bố, tính toán dòng chảy từ mưa.
Hệ thống dự báo được phân thành 3 phần: thu nhận số liệu từ vệ tinh và các trạm tự động, dự báo thủy văn và dự báo ngập lụt. Thời gian dự kiến dự báo là 1 hoặc 2 ngày. - Viện Điện lực (EDF) của Pháp đã xây dựng phần mềm TELEMAC tính các bài toán thuỷ lực 1 và 2 chiều. TELEMAC-2D là phần mềm tính toán thủy lực 2 chiều, nằm trong hệ thống phần mềm TELEMAC.
TELEMAC-2D đã được kiểm nghiệm theo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của Châu Âu về độ tin cậy; mô hình này đã được áp dụng tính toán rất nhiều nơi ở Cộng hòa Pháp và trên thế giới. Ở Việt Nam, mô hình đã được cài đặt tại Viện Cơ học Hà Nội và Khoa Xây dựng - Thuỷ lợi - Thuỷ điện, Trường Đại học Kỹ thuật Đà nẵng và đã được áp dụng thử 15 nghiệm để tính toán dòng chảy tràn vùng Vân Cốc- Đập Đáy, lưu vực sông Hồng đoạn trước Hà Nội, và tính toán ngập lụt khu vực thành phố Đà Nẵng. - Trung tâm kỹ thuật thủy văn (Mỹ) đã xây dựng bộ mô hình HEC-1 để tính toán thủy văn, trong đó có HEC-1F là chương trình dự báo lũ từ mưa và diễn toán lũ trong sông. Mô hình đã được áp dụng rất rộng rãi trên thế giới.
ở Châu Á, mô hình đã được áp dụng ở Indonesia, Thái Lan. Mô hình cũng đã được áp dụng để tính toán lũ hệ thống sông Thu Bồn ở Việt Nam. Gần đây, mô hình được cải tiến và phát triển thành HMS có giao diện đồ hoạ thuận lợi cho người sử dụng. Tổng quan về vùng nghiên cứu 1.
Đặc điểm tự nhiên vùng nghiên cứu - Vị tri địa lý: Vùng nghiên cứu gồm toàn bộ tỉnh Ninh Bình có vị trí địa lý từ 105o30’ đến 106o10’ kinh độ Đông và 20o00’đến 20o30’ vĩ độ Bắc, tổng diện tích tự nhiên 138.868 ha được giới hạn bởi: Phía Bắc và Đông giáp tỉnh Hà Nam, Nam Định ranh giới là sông Đáy. Phía Tây Bắc giáp tỉnh Hoà Bình. Phía Tây, Tây Nam giáp với Thanh Hoá, ranh giới là đường phân lưu dãy Tam Điệp và sông Càn. Phía Nam là Biển Đông.
- Đặc điểm địa hình: Phía Tây Ninh Bình nằm trong vùng tiếp giáp giữa vùng đồng bằng sông Hồng với dải đá trầm tích ở phía Tây, phía Đông Ninh Bình nằm trong vùng trũng của đồng bằng sông Hồng tiếp giáp với biển đông, vì thế Ninh Bình có địa hình đa dạng: có vùng nửa đồi núi, vùng đồi núi xen lẫn ruộng trũng, vùng đồng bằng và ven biển Xu thế chung, địa hình Ninh Bình có hướng dốc Tây Bắc ÷ Đông Nam và Bắc ÷ Nam tạo hướng thoát nước chính ra sông Đáy, sông Càn và Biển. Với điều kiện địa hình như trên, biện pháp công trình thuỷ lợi cũng rất đa dạng, có sự liên hệ, ràng buộc trong việc cấp nước, tiêu úng, thoát lũ và phòng chống lũ.1: Lưu vực sông Hoàng Long và vùng phụ cận 17 - Đặc điểm địa chất : Địa chất vùng nghiên cứu khá phức tạp, chủ yếu là trầm tích có 3 hệ chính: hệ Triát (T), hệ Neogen (N) và hệ Đệ Tứ (Q). -Đặc điểm đất đai - thổ nhưỡng: Tổng quỹ đất là 138.868 ha, phân bố trên cả 3 vùng sinh thái như đã phân tích ở phần trên. Đất đai vùng đồng bằng rất thuận lợi trong phát triển nông nghiệp thâm canh, đất đai vùng bãi bồi ven biển thuận lợi trong phát triển trồng cói, nuôi trồng thuỷ sản và đất đai vùng đồi núi thuận lợi phát triển kinh tế trạng trại.
- Đặc điểm khí tượng - thủy văn: + Chế độ mưa: phụ thuộc vào sự hoạt động của chế độ gió mùa. Tổng lượng mưa trung bình năm 1750 ÷ 1850mm, mưa lớn thường tập trung ở vùng núi cao (ven dãy Tam Điệp, đầu nguồn sông Hoàng Long) và vùng bãi ven biển. Mưa được phân bố thành hai mùa rõ rệt. Nhìn chung khí hậu của Ninh Bình tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp.