CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về hộ Hộ là một tổ chức kinh tế - xã hội ra đời từ rất lâu, trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội cho tới nay nó vẫn tồn tại và phát triển.
Trong từng giai đoạn, hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, hộ luôn là đối tượng thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học, tổ chức trên thế giới. Qua nghiên cứu cho thấy, có nhiều quan niệm của các nhà khoa học về hộ: Trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế cũng như từ điển ngôn ngữ “Hộ là tất cả những người cùng sống chung trong một mái nhà. Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công”. Theo liên hợp quốc “Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có cùng chung một ngân quỹ”.
Năm 1981, Haris (London - Anh) trong tác phẩm của mình cho rằng: “Hộ là đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động” Tại cuộc thảo luận Quốc tế lần thứ 2 về quản lý nông trại tại Hà Lan (1980) các đại biểu nhất trí cho rằng: “Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tiêu dùng, xem như là một đơn vị kinh tế” Giáo sư T.Gee (1989) Giám đốc Viện nghiên cứu Châu Á thuộc trường Đại học Tổng hợp Britiah Colombia, khi khảo sát “Kinh tế hộ trong quá trình phát triển” ở một số nước Châu Á đã nêu lên rằng “Ở các nước Châu Á hầu hết người ta quan niệm hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc ở chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung ngân quỹ”. Raul Iturna, Giáo sư trường Đại học Tổng hợp Liôbon khi nghiên cứu cộng đồng nông dân trong quá trình quá độ ở một số nước Châu Á đã chứng minh “Hộ là những người cùng chung huyết tộc có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn chính bản thân họ và cộng đồng”. Hộ nông dân Tác giả Frank Ellis định nghĩa: “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”. Nhà khoa học Traianốp cho rằng: “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định” và ông coi “Hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp” Luận điểm trên của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển.
Đồng tình với quan điểm trên của Traianốp, hai tác giả Mats Lundahl và Tommy Bengtsson bổ sung và nhấn mạnh thêm “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất cơ bản”. Chính vì vậy, cải cách kinh tế ở một số nước những thập kỷ gần đây đã thực sự coi hộ nông dân là đơn vị sản xuất tự chủ và cơ bản, từ đó đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn.Lênin chi rằng “Cải tạo tiểu nông nghiệp không phải là tước đoạt của họ mà phải tôn trọng sở hữu cá nhân của họ, khuyến khích họ liên kết với nhau một cách tự nguyện để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của chính họ”. Ở nước ta có nhiều tác giả đề cập tới khái niệm hộ nông dân. Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế – xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn” [1].
Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nồng nghiệp ở nông thôn” [2]. Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn năm 2011 cho rằng: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật,…) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”[3]. 6 Nghiên cứu những tài liệu trên đây về hộ nông dân và các tác giả cho tôi thấy rằng: Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông. Ngoài ra hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp.
Kinh tế hộ nông dân Hộ nông dân là thực thể kinh tế văn hóa xã hội chủ yếu ở nông thôn, vì vậy cần hệ thống lý thuyết về phát triển kinh tế hộ nông dân là nền tảng cho việc phân tích, đánh giá và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế hộ nông dân. Theo “Bài giảng kinh tế lâm nghiệp” của thầy Trần Công Quân (Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên) thì: “Kinh tế nông hộ là một hình thức kinh tế cơ bản và tự chủ trong nông – lâm nghiệp được hình thành và tồn tại trên cơ sở sử dụng đất đai, sức lao động, tiền vốn … của gia đình mình là chính”. Theo giáo sư Trần Văn Hà thì: “Kinh tế nông hộ là đơn vị khai thác kinh doanh nông nghiệp của những người cùng sống chung một mái nhà. Người chủ sản xuất là trưởng gia, là chủ hộ cùng những thân nhân sử dụng tổng hợp những yếu tố lao động, đất, vốn, phương tiện sản xuất tác động vào môi trường sinh thái để làm ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống vật chất của gia đình và cộng đồng xã hội”.
Tóm lại, có thể thấy kinh tế nông hộ là một hình thức cơ bản và tự chủ trong nông nghiệp. Nó được hình thành và phát triển một cách khách quan, lâu dài, dựa trên sự tư hữu các yếu tố sản xuất, là loại hình kinh tế có hiệu quả, phù hợp với sản xuất nộng nghiệp thích ứng, tồn tại và phát triển trong mọi chế độ kinh tế xã hội.Vai trò của kinh tế hộ nông dân Kinh tế hộ là tế bào của xã hội, sự phát triển của nó trước tiên giúp nâng cao đời sống của người dân và góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Kinh tế nông hộ đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần đổi mới công nghệ sản xuất. Hộ là nơi tích lũy kinh nghiệm sản xuất truyền thống cũng là nơi áp dụng công nghệ mới vào sản xuất.
Khi chuyển sang sản xuất hàng hóa, 7 xuất hiện cạnh tranh thị trường, hộ buộc phải đổi mới công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt hơn với giá rẻ hơn. Việc đổi mới công nghệ trước hết phải nhằm khai thác tốt kinh nghiện truyền thống từ lâu đời (Nguyễn Văn Huân, năm 1993) [4]. Đặc trưng của kinh tế hộ nông dân Kinh tế hộ nông dân mặc dù có những bước đi thăng trầm song thực tế hộ nông dân và kinh tế hộ vẫn tồn tại bền vững, thúc đẩy xã hội phát triển. Kinh tế hộ nông dân có những đặc trưng chủ yếu sau: Về mặt kinh tế: Các thành viên trong nông hộ được gắn bó với nhau dựa trên những quan hệ thật sự bình đẳng đó là quan hệ sở hữu về tài sản, quan hệ phân phối các nguồn thu nhập và chỉ tiêu.
Đó chính là những lợi ích về kinh tế cho nên trong gia đình mọi người gắn bó và cảm thông với nhau. Về quản lý phân công lao động: Trong nông hộ việc quản lý và phân công lao động khác hẳn với các ngành nghề khác là người quản lý cũng là người trực tiếp lao động. Sau đó việc phân công lao động hết sức thuận lợi, hợp lý vì mọi người hiểu nhau về năng lực và trình độ. Hơn nữa vì mục đích của mỗi thành viên trong nông hộ cũng thống nhất là làm thế nào để gia đình giàu có, động lực đó cũng thúc đẩy mọi người làm hết mình và có tính tự giác cao, điều mà không có hình thức kinh doanh nào có được.
Về tài sản và tư liệu sản xuất: Các thành viên trong hộ đều bình đẳng, sử dụng chung mọi tài sản phục vụ cho sản xuất và đời sống của gia đình, mọi người đều hiểu rõ tính chất giá trị của tài sản cho nên họ đều có ý thức sử dụng và bảo quản tốt nhất. Bởi vì chúng là những yếu tố của gia đình (Chu Văn Vũ, 1995)[5]. Các nhân tố ảnh hưởng trong quá trình phát triểnh tế hộ nông dân * Nhóm nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên: - Vị trí địa lý và đất đai Vị trí địa lý có ảnh hưởng trực tiếp từ sản xuất nông nghiệp và sự phát triển của kinh tế hộ nông dân. Những hộ nông dân có vị trí thuận lợi như: gần đường giao thông, gần các cơ sở chế biến nông sản, gần thị trường tiêu thụ sản 8 phẩm, gần trung tâm các khu công nghiệp, đô thị lớn… sẽ có điều kiện phát triển kinh tế.
Sản xuất chủ yếu của hộ nông dân là nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế trong quá trình sản xuất. Do vậy quy mô đất đai, địa hình và tính chất nông hóa thổ nhưỡng có liên quan mật thiết tới từng loại nông sản phẩm, tới số lượng và chất lượng sản phẩm, tới giá trị sản phẩm và lợi nhuận thu được. - Khí hậu thời tiết và môi trường sinh thái Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Điều kiện thời tiết, khí hậu, lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng… có mối quan hệ chặt chẽ đến sự hình thành và sử dụng các loại đất.
Thực tế cho thấy ở những nơi thời tiết khí hậu thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi sẽ hạn chế những bất lợi và rủi ro, có cơ hội để phát triển kinh tế. Môi trường sinh thái có ảnh hưởng đến phát triển hộ nông dân, nhất là nguồn nước. Bởi vì những loại cây trồng và gia súc tồn tại theo quy luật sinh học, nếu môi trường thuận lợi cây trồng, gia súc phát triển tốt, năng suất cao, còn ngược lại sẽ phát triển chậm, năng suất chất lượng giảm từ đó dẫn đến hiệu quả sản xuất kém.