Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH 1. Các khái niệm có liên quan 1. Một số khái niệm cơ bản Kinh tế - xã hội là vẫn đề rộng lớn bao trùm mọi mặt hoạt động của mỗi quốc gia nói chung và của từng tỉnh, từng huyện, từng xã nói riêng. Một nội dung hàm chứa nhiều vẫn đề quan trọng liên quan đến nhiều lĩnh vực nhiều ngành khoa học có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
Do vậy xây dựng và phát triển KT-XH là đề ra những định hướng và những giải pháp cụ thể phù hợp với từng vùng, từng địa phương. Khái niệm về hộ gia đình [4] Chỉ là một hình thức tồn tại của một kiểu nhóm xã hội lấy gia đình làm nền tảng. Hộ gia đình trước hết là một tổ chức kinh tế có chất hành chính và địa lý. Ở nông thôn có nhiều kiểu tổ chức hộ gia đình, như hộ gia đình nông nghiệp (thuần nông), hộ gia đình nông – phi nông (hỗn hợp), hộ gia đình phi nông nghiệp (hộ phi nông).
Ngoài ra hộ gia đình là đơn vị kinh tế cơ sở, tức là vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tiêu dùng, vừa là chủ thể kinh doanh, vừa là đơn vị xã hội. Là một nền kinh tế nhỏ nằm trong nền kinh tế của đất nước. trong thời kỳ đổi mới, kinh tế đất nước có sự phát triển đáng kể, đời sống của đại bộ phận người dân được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người vẫn còn một bộ phận dân cư phải sống trong hoàn cảnh khó khăn, nghèo đói, vì vậy phải phát triển kinh tế hộ gia đình là một biện pháp tốt có tác động trực tiếp tới đời sống của người dân.
Khái niệm về kinh tế hộ gia đình [4] Kinh tế hộ gia đình là loại hình kinh tế, trong đó các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động gia đình (là tất cả những người trong gia đình có khả năng lao động và sẵn sàng tham gia lao động, để sản xuất hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của gia đìnhhay xã hội) và mục đích của loại hình kinh tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình (không phải mục đích chính là sản xuất hàng 10 n hoá để bán). Tuy nhiên các hộ gia đình cũng có thể sản xuất để trao đổi nhưng ở múc độ hạn chế. Khái niệm về phát triển và phát triển kinh tế hộ gia đình Phát triển được coi như là một tiến trình biến chuyển của xã hội, là chuỗi những biến chuyển có mối quan hệ qua lại với nhau. Sự tồn tại và phát triển xã hội hôm nay là sự kế thừa những di sản đã diễn ra trong quá khứ.
Phát triển theo khái niệm chung nhất là việc nâng cao hạnh phúc của người dân bao hàm nâng các chuẩn mực sống, cải thiện các điều kiện giáo dục, sức khoẻ, sự bình đẳng về các cơ hội. ngoài ra việc đảm bảo về các quyền chình trị và công dân là những mục tiêu rộng hơn của phát triển. Có thể hiểu phát triển là việc tạo điều kiện cho con người sinh sống ở bất cứ nơi nào đều được thoả mãn các nhu cầu sống của mình, có mức tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ tốt, đảm bảo chất lượng cuộc sống, có trình độ học vẫn cao, được hưởng những thành tựu về văn hoá và tinh thần có đủ điều kiện cho một môi trường sống lành mạnh, được hưởng các quyền cơ bản của con người và được đảm bảo an ninh, an toàn, không có bạo lực. [4] Qua những khái niệm trên ta có thể nói một cách khái quát khái niệm về phát triển kinh tế hộ gia đình như sau: “Phát triển kinh tế hộ gia đình là việc áp dụng các kỹ thuật tiến bộ và mô hình canh tác thích hợp với khả năng lao động của gia đình và điều kiện đất đai, tự nhiên để sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, góp phần xây dựng đất nước.
Các đặc trưng của kinh tế hộ gia đình [11] Đặc trưng bao trùm của kinh tế hộ là các thành viên trong gia đình làm việc một cách tự chủ, tự nguyện vì lợi ích kinh tế của bản thân và gia đình mình. Nhìn chung là kinh tế sản xuất nhỏ, mang tính tự cấp, tự túc hoặc sản xuất hàng hoá nhỏ với năng suất lao động thấp, nhưng lại có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp ở các nước đang phát triển nói chung và ở nước ta nói riêng.Với những đặc trưng trên, tuỳ theo tình hình và điều kiện cụ thể của từng nước, từng vùng, từng loại hộ mà hình thành những đặc trưng cụ thể đa dạng về hình thức quản lý, về ruộng đất, quy mô, về vốn tài sản, lao động. Sau đây, chúng ta sẽ xem xét những đặc trưng cụ thể: 11 n Về hình thức quản lý: Trong nông hộ việc quản lý chủ yếu là người chủ hộ đồng thời cùng tham gia lao động với các thành viên trong gia đình. Có trường hợp giao cho các thành viên trong gia đình có năng lực uy tín quản lý.
Mỗi hộ, nông trại là một đơn vị (kinh tế) kinh doanh tự chủ. Ruộng đất: Ở nhiều nước trên thế giới ruộng đất do nông hộ, nông trại sử dụng thuộc sở hữu cá nhân. Chủ nông hộ, nông trại vừa là người sử dụng ruộng đất vừa là người sở hữu ruộng đất. Đối với Việt Nam ruộng đất thuộc sở hữu của Nhà nước.
Các nông hộ được giao quyền sử dụng đất lâu dài tùy theo từng loại đất mà hộ trồng các loại cây trồng hàng năm hoặc lâu năm. Cơ cấu sản xuất của nông hộ, nông trại: Mỗi hộ đều có loại hình phát triển kinh tế riêng. Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế của từng vùng, từng nông hộ có hình thức sản xuất khác nhau: Có loại nông hộ sản xuất mang tính độc canh, sản xuất chủ yếu là cây lương thực như ngô, lúa. Có nông hộ vừa trồng trọt, chăn nuôi vừa làm ngành nghề tiểu thủ công.
Có hộ chuyên làm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản kết hợp với chế biến và một số ngành nghề khác. Vốn và tài sản của hộ: Nhìn chung các hộ đều sử dụng vốn tự có để phát triển sản xuất và bảo đảm đời sống. Tùy theo điều kiện và quy mô từng hộ mà số vốn sản xuất khác nhau. Các hộ trung bình và nghèo có ít vốn và thiếu vốn.
Các hộ khá và giàu có vốn nhiều hơn nhưng vẫn thiếu vốn để mở rộng sản xuất. Nhiều hộ có nhu cầu vay vốn nhưng tùy thuộc vào điều kiện từng nước mà Nhà nước cho vay nhiềuhay ít. Ở các nước đang phát triển việc Nhà nước cho các hộ nông dân vay vốn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội ở nông thôn. Hiện nay ở nước ta Nhà nước đã có chính sách cho vay vốn với lãi suất ưu đãi để phát triển kinh tế gia đình.
Về tư liệu sản xuất: Nhìn chung các hộ đều tự sắm các tư liệu sản xuất thông thường. Các hộ nông dân ta tùy theo từng vùng, địa phương sử dụng tư liệu khác nhau: các nông hộ ở miền núi chủ yếu dùng trâu, bò để cày, bừa, một số hộ có dùng máy móc cày thuê; ở vùng đồng bằng đất bằng phảng chủ yếu sử dụng công cụ máy móc để sản xuất. Lao động trong nông hộ: Trong kinh tế hộ lao động chủ yếu là do chủ hộ phân 12 n công các thành viên trong gia đình tham gia sản xuất. Những nông trại lớn có thể thuê lao động ngoài, nhưng lực lượng chủ yếu vẫn là các thành viên trong gia đình hoặc bà con họ hàng.
Còn ở Việt Nam trong các nông hộ các thành viên trong gia đình thường làm đủ loại các công việc (trồng trọt, chăn nuôi, nghề phụ) do sự phân công hàng ngày của bố hoặc mẹ. Một số nông hộ giàu nhiều đất đai, nhiều ngành nghề có thêm một số lao động thời vụ có kỹ thuật hoặc thuê lao động thường xuyên. Vai trò của kinh tế hộ gia đình [11] Kinh tế hộ đã có từ lâu đời cho đến nay nó còm tồn tại và phát triển. Trải qua nhiều thời kỳ khác nhau thì kinh tế hộ biến đổi thành nhiều hình thức khác nhau, càng ngày nó càng khẳng định được tầm quan trọng và vai trò trong nền kinh tế quốc dân.
Hiện nay, kinh tế hộ có vị trí quan trọng trong nền quốc dân nói chung, là thành phần cơ bản của nền nông nghiệp nông thôn nói riêng. Nó tồn tại một cách khách quan trọng xã hội bởi vì quá trình vận động và phát triển của nền kinh tế xã hội là sự gia tăng của các ngành, các thành phần kinh tế mà trong đó kinh tế hộ thúc đẩy xã hội phát triển. Bởi vì kinh tế hộ được coi là tế bào xã hộ, là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của kinh tế nông nghiệp nông thôn nước ta, giúp nâng cao đời sống của người dân và góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước. [15] Trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đang diễn ra mạnh mẽ sẽ tác động đến cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và các hoạt động kinh tế của hộ sẽ có những thay đổi đáng kể.
Quá trình này sẽ giảm nhẹ nặng nhọc lao động do sự phát triển của hệ thống máy móc, thiết bị hiện đại, nhưng điều hành công việc của toàn bộ hệ thống sản xuất là do con người. Trên ý nghĩa đó, vai trò của hộ sẽ không bị lu mờ đi trong quá trình công nghiệp hóa và vai trò tạo nguồn lao động hộ là không thể thiếu được. - Đóng góp GDP cho kinh tế của địa phương. Kinh tế hộ gia đình đã có những đóng góp nhất định vào tổng sản phẩm (GDP) cho kinh tế địa phương.
- Đóng góp vào tổng thu ngân sách nhà nước địa phương. - Kích thích, thúc đẩy thị trường phát triển. Đối với thị trường đầu vào, kinh tế hộ tham gia thị trường thông qua việc cung ứng các nguyên vật liệu do khai thác hoặc thu mua lại của người dân. Đối với thị trường bán ra, kinh tế hộ tham gia phân 13 n phối hàng hóa đến trực tiếp người tiêu dùng nhất là vùng xa, vùng sâu.
- Góp phần giải quyết việc làm cho người lao động. - Nâng cao thu nhập cho người lao động. - Tiền đề phát triển thành công ty, doanh nghiệp.