CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Một số vấn đề chung về hoạt động thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hoạt động thanh toán quốc tế TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ, phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức hay cá nhân nước này đối với tổ chức hay cá nhân nước khác, hoặc giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua mạng lưới ngân hàng trên toàn cầu. Đặc điểm hoạt động thanh toán quốc tế Thanh toán liên quan tới đồng tiền, địa điểm, phương tiện, phương thức và thời gian thanh toán Hoạt động TTQT liên quan mật thiết đến 5 yếu tố đó là đồng tiền, phương tiện, phương thức, địa điểm và thời gian thanh toán.
Trong giao dịch TTQT, các bên tham gia thông thường ở các quốc gia khác nhau. Vì vậy, hoạt động TTQT liên quan đến ngoại tệ hay hai loại đồng tiền khác nhau. Các bên tham gia TTQT phải thống nhất lựa chọn một đồng tiền đảm bảo giá trị các giao dịch ngoại thương. Thông thường đồng tiền nói chung trong TTQT được phân biệt thành hai loại đồng tiền là đồng tiền tính toán và đồng tiền thanh toán.
Đồng tiền được lựa chọn làm đồng tiền tính toán thường là đồng tiền ổn định hay còn gọi là đồng tiền mạnh. Và đồng tiền thanh toán là đồng tiền mà hai bên sử dụng để chi trả cho nhau. Đồng tiền thanh toán trước tiên phải là đồng tiền tự do chuyển đổi và sau đó phổ biến với tập quán thanh toán quốc tế. Đồng tiền tính toán và đồng tiền thanh toán được lựa chọn cùng một loại ngoại tệ hoặc hai loại ngoại tệ khác nhau.
Phương tiện. Các phương tiện được sử dụng trong TTQT là hối phiếu (Draft/ Bill of Exchange), séc, tiền mặt. Nhưng phổ biến nhất vẫn là hối phiếu được xem là mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một người (gọi là người ký phát) đòi tiền người khác (gọi là người bị ký phát) yêu cầu người này trả ngay hoặc đến một ngày cụ thể hoặc đến một ngày có thể xác định được trong tương lai trả một số tiền nhất định 123doc 4 cho người có tên trên tờ hối phiếu hoặc theo lệnh của người này hoặc cho người cầm hối phiếu. Phương thức.
Trong hoạt động thương mại quốc tế tất yếu sẽ dẫn đến việc nhận trả tiền hàng giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu, đó là hoạt động TTQT, người ta có thể thực hiện hoạt động này bằng nhiều cách thức, được gọi là phương thức TTQT. Hiện nay trên thế giới có nhiều phương thức thanh toán như: Phương thức chuyển tiền, phương thức ghi sổ, phương thức nhờ thu, phương thức tín dụng chứng từ, … Mỗi phương thức thanh toán có những ưu nhược điểm khác nhau, thể hiện thành mâu thuẫn quyền lợi giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu. Do vậy, việc lựa chọn phương thức thanh toán nào là tùy thuộc vào quan hệ của họ và phải được ghi rõ vào hợp đồng mua bán ngoại thương. Địa điểm thanh toán.
Các bên tham gia giao dịch ngoại thương có thể chọn một địa điểm bất kỳ làm nơi nhận thanh toán. Việc chọn lựa này tùy thuộc vào yêu cầu công việc và mối quan hệ giữa các bên. Thông thường địa điểm nhận thanh toán là nước xuất khẩu vì như thế dễ dàng tạo thuận lợi cho bên xuất khẩu thu hồi vốn và trang trải các chi phí xuất khẩu… Tuy nhiên cũng có trường hợp việc thanh toán diễn ra ở nơi được chỉ định không phải là nước xuất khẩu có thể để chuyển vốn từ hoạt động xuất khẩu đến đầu tư tại đó hoặc nơi đó chính là nguồn cung ứng hàng hóa chính cho hoạt động xuất khẩu… Thời gian thanh toán. Trả trước, trả ngay, trả sau hoặc hỗn hợp.
Đối với điều kiện này thường phải kèm theo một mốc thời gian mà hai bên thống nhất lấy đó làm cơ sở tính thời gian. Những mốc thời gian thường được chọn là ngày ký hậu vận đơn cho lô hàng đã xuất khẩu, ngày ký phát hối phiếu, ngày chấp chận hối phiếu hoặc một mốc thời gian bất kỳ mà hai bên thống nhất chọn làm cơ sở. Thanh toán quốc tế phục vụ cho hoạt động kinh tế đối ngoại, phi mậu dịch, đầu tư, tài chính Thanh toán là khâu quan trọng trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa, đặc biệt là đối với hoạt động XNK. TTQT được tổ chức tốt thì giá trị của hàng hóa trao đổi và dịch vụ thực hiện giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau mới được thực hiện, góp phần thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển.
Và chính vì vậy 123doc 5 TTQT đã trở thành một nhân tố quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại của một quốc gia trong bối cảnh quan hệ quốc tế được mở rộng như ngày nay. Ngoài ra, TTQT còn phục vụ cho các hoạt động phi mậu dịch không mang tính thương mại như thanh toán các khoản chi phí của các cơ quan ngoại giao, ngoại thương ở nước sở tại, các chi phí về vận chuyển và đi lại của các đoàn khách nhà nước, các tổ chức, cá nhân,… Hoặc các khoản thanh toán chuyển tiền của các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường tài chính Việt Nam hay ngược lại các khoản đầu tư của nhà đầu tư Việt Nam ra thị trường tài chính thế giới. Thanh toán quốc tế gặp nhiều rủi ro hơn so với thanh toán trong nước Khác với thanh toán trong nước, TTQT thường gặp nhiều rủi ro do sự biến động của tiền tệ, sự bất ổn chính trị của một quốc gia, do sự khác biệt về luật pháp, cơ chế chính sách, do vị trí địa lý của các bên tham gia cách nhau làm hạn chế việc tìm hiểu, giám sát khả năng thanh toán cũng như tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của con nợ… Các chủ thể tham gia trong các phương thức TTQT ở nhiều quốc gia khác nhau và tham gia vào nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau do đó chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của môi trường chính trị, xã hội của các quốc gia như: bạo động, chiến tranh, đình công, thiên tại, dịch bệnh,. làm cho các điều kiện trên thị trường tài chính cũng bị thay đổi đột ngột.
Do vậy, các bên tham gia xuất nhập khẩu và ngân hàng bị động trong việc thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết gây thiệt hại cho các bên tham gia. Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam 1. Đối với các ngân hàng thương mại Thanh toán quốc tế góp phần tạo ra thu nhập cho các ngân hàng thương mại Hoạt động TTQT đã trực tiếp tạo ra lợi cho NHTM thông qua các khoản phí dịch vụ TTQT. Nguồn thu phí dịch vụ TTQT là một trong những nguồn thu chủ yếu trong tổng thu phí dịch vụ ngân hàng.
So với thanh toán trong nước tỷ lệ phần trăm để tính phí cũng như mức tối đa tối thiểu của các loại phí liên quan đến hoạt động thanh toán quốc tế cao hơn rất nhiều. 123doc 6 Ngoài ra TTQT không chỉ là một nghiệp vụ ngân hàng thuần túy mà còn đóng vai trò trung tâm không thể thiếu trong dây truyền hoạt động kinh doanh, bổ sung và hỗ trợ các mặt hoạt động nghiệp vụ khách của ngân hàng và gián tiếp ra lợi nhuận từ các mặt hoạt động khác như hoạt động kinh doanh ngoại tệ, các dịch vụ tài trợ thương mại, bao thanh toán, bảo lãnh,… Tăng nguồn vốn huy động và phân tán rủi ro trong kinh doanh của các ngân hàng thương mại Thanh toán quốc tế tạo điều kiện thu hút khách hàng, mở rộng nguồn vốn huy động, làm tăng số dư tiền gửi trong quá trình thực hiện các phương thức TTQT cho khách hàng chẳng hạn như việc ký quỹ mở L/C của doanh nghiệp nhập khẩu, quản lý tài khoản tiền gởi thanh toán bằng ngoại tệ và Việt nam đồng của các doanh nghiệp xuất khẩu, quản lý các tài khoản chuyên dùng góp vốn đầu tư vào Việt Nam hoặc đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài, quản lý các tài khoản Nostro, Vostro của các định chế tài chính trung gian,…Đây là những nguồn huy động giá trị lớn và thường ổn định trong một khoản thời gian nhất định do vậy góp phần làm tăng tính thanh khoản cho ngân hàng. Phát triển hoạt động TTQT giúp NHTM mở rộng hoạt động kinh doanh thông qua việc cung ứng các dịch vụ ngân hàng quốc tế đồng thời đẩy mạnh quy mô cũng như hiệu quả của các mảng hoạt động khác của NHTM như kinh doanh ngoại tệ, tài trợ thương mại,…Trong bối cảnh nền kinh tế suy thoái, môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, kinh doanh đa năng luôn là một phương sách hữu ích để duy trì hoạt động kinh doanh hiệu quả cao và phân tán rủi ro cho các NHTM. Đặc biệt đối với các khách hàng có quan hệ tín dụng hoặc sử dụng các sản phẩm tài trợ xuất nhập khẩu từ các NHTM thì việc sản phẩm dịch vụ TTQT của chính ngân hàng đó đủ hấp dẫn để doanh nghiệp lựa chọn sử dụng là điều kiện thuận lợi và là một kênh hiệu quả để ngân hàng có thể quản lý việc sử dụng vốn vay, giám sát được tình hình kinh doanh của khách hàng, tạo điều kiện quản lý, nâng cao hiệu quả đầu tư và kiểm soát rủi ro.
123doc 7 Tăng cường quan hệ với mạng lưới ngân hàng đại lý Phát triển hoạt động TTQT tạo điều kiện cho các NHTM Việt Nam mở rộng quy mô hoạt động vượt ra khỏi biên giới quốc gia, thiết lập mối quan hệ đại lý với các NH nước ngoài. Nâng cao uy tín của ngân hàng trên trường quốc tế. Trên cơ sở đó khai thác nguồn tài trợ trên thị trường tài chính quốc tế, từ các NH nước ngoài, thu hút thêm khách hàng. Ngoài ra, hoạt động TTQT đóng vai trò vô cùng quan trọng trong thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ như hiện nay.
Đó là, hoạt động TTQT tạo môi trường cho các NHTM ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến, hiện đại trên thế giới trong hoạt động ngân hàng thông qua việc tham gia nối mạng thông tin và ứng dụng công nghệ cao trong xử lý thông tin giúp cho các NHTM Việt Nam có thể theo kịp với sự phát triển của thế giới, không bị lạc hậu và thua kém các NH nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam góp phần thực hiện mục tiêu phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại.