mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt. Nếu như thanh 7 toán bằng tiền mặt gặp phải nhiều nhược điểm như bị hạn chế về mặt không gian và thời gian (nếu các chủ thể ở cách xa nhau), có khả năng gặp rủi ro lớn (như mất mát, tiền thừa, thiếu…). Dịch vụ thanh toán qua ngân hàng đã khắc phục tất cả những hạn chế đó và đem lại nhiều tiện ích cho người sử dụng như nhanh chóng, an toàn, chính xác, tiết kiệm chi phí…từ đó góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho doanh nhân. Thêm vào đó đối với một quốc gia, dịch vụ thanh toán qua ngân hàng còn góp phần thực hiện chính sách tiền tệ của quốc gia đó.
Với sự phát triển của dịch vụ thanh toán đã kéo theo sự ra đời và phát triển nhiều dịch vụ khác như dịch vụ mở tài khoản thanh toán. Bên cạnh đó công nghệ thông tin phát triển cũng thúc đẩy sự ra đời và phát triển nhiều hình thức thanh toán khác nhau như: Nhờ thu, uỷ nhiệm chi, L/C, thẻ thanh toán…Những dịch vụ này giúp cho nền kinh tế hoạt động một cách linh hoạt và sôi động hơn. Vậy thúc đẩy thị trường không dùng tiền mặt trong nền kinh tế thì việc phát triển hệ thống thanh toán là rất quan trọng. Hiện nay có rất nhiều kênh chuyển tiền trong nước như kênh thanh toán bù trừ, thanh toán từng lần qua NHNN, thanh toán song phương và thanh toán điện tử liên ngân hàng.
Khi NHNN phát triển hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng giai đoạn 2 từ cuối năm 2008, hoạt động chuyển tiền giữa các ngân hàng khác nhau ngày càng được thực hiện nhanh chóng và đơn giản hơn. Một số ngân hàng hiện nay đã phát triển hệ thống nối mạng trực tuyến giữa các chi nhánh với Hội sở chính và việc thực hiện giao dịch chuyển tiền trong cùng một hệ thống ngân hàng chỉ mất vài phút là khách hàng có thể nhận được tiền ngay lập tức. Ngòai ra để phục vụ khách hàng tốt hơn, các ngân hàng còn tiến hành ký kết các thỏa thuận thanh toán song phương để có thể chuyển tiền cho khách hàng nhanh nhất với mức phí hấp dẫn. Không chỉ ký kết hợp đồng chuyển tiền với các ngân hàng, một số ngân hàng có bắt tay với các Tập đoàn hoặc các công ty khác để mở rộng kênh thanh toán trong nước như VNPOST, 8 BANKNET, VIETPAY, ONCE PAY để thực hiện các giao dịch thanh toán song phương đến tận các huyện, xã hoặc thực hiện thanh toán các dịch vụ như hóa đơn, tiền vé máy bay… 1.2 Thanh toán quốc tế Là việc thực hiện chi trả bằng tiền, liên quan đến các dịch vụ mua bán hàng hóa hay cung ứng lao vụ không mang tính chất hàng hóa giữa tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức hay cá nhân nước khác hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan.
Hiện nay dịch vụ thanh toán quốc tế được các ngân hàng thực hiện thông qua kênh SWIFF, kiều hối, chuyển tiền WU, thanh toán séc và Bankdraft, trong đó kênh SWIFF là hình thức chuyển tiền quốc tế phổ biến hiện nay của hầu hết các ngân hàng. Chuyển tiền WU là một kênh chuyển tiền và nhận tiền rất nhanh chóng thông qua chương trình được nối mạng toàn cầu. Một số ngân hàng hiện nay đã tận dụng mạng lưới của mình để phát triển đại lý phụ cho ngân hàng thực hiện dịch vụ WU và hưởng phí hoa hồng. Thanh toán quốc tế gồm có các hình thức sau: - Thư tín dụng (L/C- Letter of credit): là một thoả thuận dù được đặt tên hay mô tả như thế nào, theo đó một ngân hàng (ngân hàng phát hành) thực hiện theo yêu cầu và chỉ dẫn của khách hàng (người xin mở thư tín dụng) hoặc xuất phát từ chính bản thân họ: Thanh toán bằng L/C là hình thức phổ biến hiện nay trong thanh toán quốc tế.
Đây thực chất là sự thoả thuận giữa ngân hàng với ngân hàng phục vụ người mua hoặc ngân hàng phục vụ người bán đảm bảo với người xuất khẩu sẽ được thanh toán tiền hàng khi người hưởng lợi L/C thực hiện việc giao hàng và xuất trình với ngân hàng bộ chứng từ hạch toán phù hợp với các điều kiện, điều khoản của L/C quy định. Thanh toán bằng L/C thường được sử dụng khi hai bên mua bán chưa thật tin tưởng lẫn nhau. Thư tín dụng gồm có: 9 + Thư tín dụng xuất khẩu: Thông báo kiểm tra chứng từ, mở L/C, thanh toán L/C. + Thư tín dụng nhập khẩu: Kiểm tra chứng từ, mở L/C, thanh toán L/C.
- Bảo lãnh nhận hàng (Shipping Guarantee): là nghiệp vụ theo đó ngân hàng phát hành một bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh, cam kết với bên nhận bảo lãnh rằng bên được bảo lãnh là người nhận lô hàng một cách hợp pháp. Trong trường hợp có tranh chấp về người nhận lô hàng nói trên thì ngân hàng bảo lãnh phải thực hiện các nghĩa vụ cam kết trong bảo lãnh đã phát hành. - Ký hậu vận đơn (Advance Endorsement): là nghiệp vụ theo đó ngân hàng ký vào mặt sau của vận đơn đường biển để chuyển quyền nhận lô hàng theo vận đơn đường biển đó cho một bên khác. - Thông báo thư tín dụng (Inward L/C Advising): là nghiệp vụ theo đó ngân hàng kiểm tra tính chân thực và thông báo trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua một ngân hàng thông báo khác tới người thụ hưởng thư tín dụng do một ngân hàng phát hành theo đề nghị của ngân hàng phát hành đó hoặc theo đề nghị của một ngân hàng thông báo khác.
- Nhờ thu hàng nhập (IB Collection): là nghiệp vụ theo đó ngân hàng thông báo và xử lý các phát sinh liên quan đến bộ chứng từ đòi tiền hàng nhập theo hình thức nhờ thu theo chỉ dẫn của ngân hàng/khách hàng nhờ thu. - Nhờ thu hàng xuất (OB Collection): là nghiệp vụ theo đó ngân hàng gửi và xử lý các phát sinh liên quan đến bộ chứng từ đòi tiền hàng xuất theo hình thức nhờ thu hoặc theo hình thức thư tín dụng theo yêu cầu của khách hàng và/hoặc ngân hàng phát hành. - Mua chiết khấu bộ chứng từ: là nghiệp vụ theo đó ngân hàng kiểm tra toàn bộ chứng từ đòi tiền hàng xuất theo thư tín dụng do khách hàng xuất trình và ứng trước cho khách hàng một khoản tiền nhất định theo thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng trên cơ sở hạn mức chiết khấu của khách hàng 10 đã được ngân hàng phê duyệt, tình trạng bộ chứng từ và khả năng hoàn trả của ngân hàng phát hành. Khách hàng phải hoàn trả tiền gốc và lãi chiết khấu cho ngân hàng khi nhận được tiền từ bộ chứng từ hoặc sau một thời gian nhất định do ngân hàng quy định nên việc đòi tiền nói trên không thực hiện được.
- Thông báo bảo lãnh (BG Advising): là nghiệp vụ theo đó ngân hàng kiểm tra tính chân thực và thông báo, trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua một ngân hàng thông báo khác, tới người thụ hưởng bảo lãnh do một ngân hàng phát hành theo đề nghị của ngân hàng phát hành đó hoặc theo đề nghị của một ngân hàng thông báo khác.3 Dịch vụ bảo lãnh Do uy tín và khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng là rất lớn và do ngân hàng nắm giữ một khối lượng tiền gửi tương đối lớn của cá nhân, tổ chức xã hội vì vậy ngân hàng có thể bảo lãnh cho khách hàng của mình. Bảo lãnh là sự đảm bảo gián tiếp có 3 bên tham gia. Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của NHTM (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khi đó khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng cả gốc và lãi số tiền đã được trả thay.
Các loại bảo lãnh hiện nay gồm: Bảo lãnh thanh toán; Bảo lãnh dự thầu; Bảo lãnh thực hiện hợp đồng; Bảo lãnh vay vốn; Bảo lãnh tiền ứng trước; Bảo lãnh đảm bảo chất lượng; Các loại bảo lãnh khác. Các hình thức bảo lãnh gồm: Phát hành bảo lãnh bằng thư, điện (telex, swift); Phát hành bảo lãnh đối ứng; Xác nhận bảo lãnh; Ký xác nhận bảo lãnh trên các hối phiếu, lệnh phiếu; Các hình thức khác theo quy định của pháp luật. Xét về tính chất, bảo lãnh là loại dịch vụ lưỡng tính vừa tín dụng vừa phi tín dụng. Trong giao dịch bảo lãnh nếu chưa phát sinh nghĩa vụ của bên 11 bảo lãnh với bên thứ nhất thì giao dịch này được coi là phi tín dụng.
Tuy nhiên khi nghĩa vụ này được bên bảo lãnh thực hiện cũng có nghĩa là bên được bảo lãnh có nghĩa vụ đối với ngân hàng về khoản tiền, vật chất mà ngân hàng đã trả cho bên thứ nhất thì giao dịch này lại có tính chất tín dụng. Đây chính là lý do trong Luật các tổ chức tín dụng xếp bảo lãnh là một hình thức cấp tín dụng.4 Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ Kinh doanh ngoại tệ là một trong những nghiệp vụ chủ yếu của NHTM. Đó là việc một ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ thông quan chênh lệch tỷ giá. Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu của: - Các doanh nghiệp (đặc biệt là doanh nghiệp xuất nhập khẩu) nhằm phục vụ nhu cầu thanh toán L/C, thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ với nước ngoài, trả nợ vay ngân hàng…Dịch vụ mua bán ngoại tệ phục vụ các khách hàng là doanh nghiệp thường gồm 2 mảng chủ yếu: mua ngoại tệ phục vụ xuất khẩu và bán ngoại tệ phục vụ nhập khẩu.
- Với các cá nhân phục vụ cho các mục đích: học tập, chữa bệnh, công tác, du lịch nước ngoài một cách hợp pháp. * Một số sản phẩm kinh doanh ngoại tệ được sử dụng phổ biến hiện nay: - Giao dịch hối đoái giao ngay (Spot): là giao dịch hai bên thực hiện mua, bán một lượng ngoại tệ theo tỷ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán trong vòng 2 ngày làm việc tiếp theo. Có 3 loại Spot: Value today (ngày thanh toán trùng với ngày giao dịch), Value tomorrow (ngày thanh toán sau ngày giao dịch 1 ngày- ngày mai) và Value spot (ngày thanh toán sau ngày giao dịch 2 ngày).