CHƯƠNG 1 NHUNG LY LUAN CO BAN VE PHAT TRIEN SAN PHAM DỊCH VU BAN LE CUA NGAN HANG THUONG MAI 1.1 Khái quát về sân phẩm dịch vụ NHBL của ngân hàng thươn g mại 11.1 Khái niệm và đặc điểm của sản phẩm dịch vụ bán lẻ của ngân hàng thương magi 1.L1 Khải niệm dich vụ ngân hàng bán lẻ Những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra hàng hoá nhưng không thể hiện đưới hình thái vật thể, không cần chuyển quyền sở hữu. nhưng kịp thời đem lại sự tiện ích, thỏa mãn nhu cầu của sản xuất và đời sống của con người được gọi là dịch vụ. Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tải chính, ngân hang cung cấp các sản phẩm, dịch vụ của mình cho khách hàng và thu phí. Sản phẩm, dịch vụ của cee hàng không tồn tại đưới hình thái vật thể nên hoạt động kinh doanh đó được xếp vào ngảnh dịch vụ.
'Vậy khái niệm dịch vụ ngân hàng cần được hiểu như thế nào? dịch vụ ngân hàng là một bộ phận của dịch vụ tài chính, làmột phan của hoạt động ngân hàng, vì mục tiêu lợi nhuận mả ngân hàng thực hiện cung cấp cho khách hàng sử dụng để thỏa mãn nhu cầu của họ Theo các tài liệu nghiên cứu, dịch vụ NHBI. có nhiễu quan điểm, nhiều cách tiếp, theo khái niệm tại Từ điển tải chính, đầu tư, kinh tế của tạp chí Forbes "Dịch vu ngân hàng bán lẻ là hoạt động ngân hảng phục vụ cho thị trường đại chúng nơi mà các khách hàng cá nhân được cung cấp dịch vụ qua mạng lưới chỉ nhánh địa phương của các ngân hàng. Các dịch vụ ngân hàng bán lẻ cung cấp bao gồm: tiễn gửi tiết kiệm và tiễn gửi không kì hạn, tín dụng cá nhân, tín dụng hộ gia đỉnh, thẻ hi nợ, thẻ tín dụng và một số dịch vụ khác" Còn theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cho rằng: “Dịch vụ NHBL là loại hình dịch vụ của ngân hàng nơi khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại những điểm giao dịch của ngân hàng để thực hiện các dịch vụ như: gửi tiền tiết kiệm, kiểm traA tat khoản, thế chấp vay vốn, thẻ tín dụng, thẻ ghỉ nợ và các dịch vụ khác đi kèm. Ngoài ra, có quan điểm cho rằng: “Ngân hàng bán lẻ lä các sản phẩm dịch vụ được ngân hàng mang đến cho đổi tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, các doan nghi nhỏ và vừa (DN thôn qua man lưới chỉ nhá ong cáo vụ ngân hàng, qua thực tế hoạt động tại BIDV có thể đi rút ra khái niệm chung cho dịch vụ NHBL như sau: *Dịch vụ NHBL là việc cung ứng dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các hộ gia đình, DNNVV thông qua mạng lưới chỉ nhánh hoặc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện công nghệ thông tin, điện tử viễn thông” Đây là những dịch vụ của NHTM dành cho các khách hàng cá nhân, cho hộ kinh doanh và cho các DNNVV với quy mồ giao dịch nhỏ, lẻ.
Thị trường ngân hàng bán lẻ tuy quy mô giao dịch nhỏ lẻ, song được nhận định là thị trường tiềm năng do số lượng khách hàng lớn và nhu cầu ổn định. Trước đây, dịch vụ NHBL phần lớn chỉ được cung cắp khi khách hàng đến các chỉ nhánh hoặc các điểm giao dịch của NHTM. Sau quá trình phát triển và hiện đại hóa, khi yêu cầu của khách hàng ngày càng lớn và đa dạng, các NHTM đã đưa vào hoạt động của mình những ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại nhằm đẩy mạnh phát triển hoạt động NHBL, Qua đó, mang lại cho các NHTM khả năng tiếp cận sâu hơn vào nền kinh tế, tiếp cận khách hàng dễ dàng hơn, mở rộng nền khách hàng, mở rộng danh mục sản phẩm, dịch vụ, đồng thời nâng cao thu nhập cho ngân hàng. Mặt khác giúp khách hàng cỏ thể tiết kiệm thời gian, vừa có thể thỏa mãn nhu cầu của mình khi sử dụng các sản phẩm, dịch vụ NHBL tại nhà, tại văn phòng làm việc.
mà không cần trực tiếp đến giao dịch tại ngân hàng.2 Đặc trưng của dịch vụ NHBL Trên cơ sở các khái niệm về dịch vụ NHBL và các đặc điểm khách hang cho thấy: ~ Thứ nhất, đối tượng sử dụng sản phẩm dịch vụ là cá nhân, hộ gia đình, các DNNVV nên hoạt động NHBL có lượng khách hàng rắt lớn, đa dạng và phân bố rộng khắp trong cả nước ~ Thứ hai, mong muốn, yêu cầu của khách hàng với NHBL rất đa dạng và phong phú. Các DNNVV hoạt động sản xuất kinh doanh trên nhiều lĩnh Vực, còn đổi tượng khách hàng cá nhân ở nhiều độ tuổi, nghề nghiệp, thu nhập. khác nhau trong xã hội nên yêu cầu đối với sản phẩm dịch vụ NHBL là khác nhau. Vì vậy đòi hỏi các ngân hàng muốn phát triển hoạt động bán lẻ cần phải thay đổi quan niệm trong hoạt động kinh doanh của mình, có định hướng chiến lược phát triển phủ hợp.
~ Thứ ba, giá trị giao dịch trên I sản phẩm hay dịch vụ của NHBL nhỏ hơn so với NHBB nên chỉ phí cỗ định (chỉ phí hanh chính, nhân công.) trên mỗi giao ~ Thứ tư, mục tiêu là cá nhân, hộ gia đình nên hầu hết các sản phẩm, dịch vụ sẽ có nghiệp vụ đơn giản, dễ hiểu, dễ sử dụng, thường tập trung ở một số sản phẩm chỉnh như mở tài khoản thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, cho vay, phát hành thẻ. ~ Thứ năm, chỉ phí hoạt động trung bình cao do số lượng khách hàng lớn nhưng phân tán rộng khắp, ngân hàng phái mở nhiều mạng lưới, đầu tư công nghệ hiện đại để phục vụ khách hảng. Bên cạnh đó phương thức quản lý, hình thức tiếp cận khách hàng đa dạng hơn địch vụ ngân hàng bán buôn. - Thứ sáu, ngày nay hoạt động NHBL được phát triển trên nền tảng công nghệ hiện đại, các sắn phẩm dịch vụ hầu hết cỏ tính năng và mục đích sử dụng tương đồng nên marketing đóng vai trò ngày cảng quan trọng.
vi thé, các NHTM cần biết tạo ra sự khác biệt trong dịch vụ, tính tiện ích để chiếm lợi thế trong cạnh.2 Các loại hình sản phẩm dịch vụ bám lẽ chủ yễu của VHTIM Việc phân nhóm các sản phẩm dịch vụ NHBL cụ thể, chỉ tiết sẽ giúp ngân hang dinh hướng tới khách hàng mục tiêu, từ đó phục vụ, đáp ứng tốt nhất nhu cầu đã dạng của khách hàng. Do đặc điểm của khách hàng cá nhân đa dạng về tằng lớp, thu nhập và độ tuổi. nên nhu cầu về sản phẩm dịch vụ NHBL thường phân các nhóm sản phẩm sau: 1,1.1 Dịch vụ huy động vẫn Dịch vụ huy động vốn vốn (HĐV) là sản phẩm đặc trưng nhất luôn chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ. Danh mục sản phẩm ngày cảng đa dạng với nhiều kỳ hạn, phân tầng lãi suất hấp dẫn.
Hằu hết được phân thành 03 loại hình huy động vốn chủ yếu là tiễn gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm và giấy tờ có giá. a, Sản phẩm tiền gửi thanh toản: Là loại sản phẩm HĐV không kỳ hạn, trên cơ sở số dư tại tải khoản tiền gửi thanh toán giao dịch của khách hàng. Đây là nguồn HĐV giá rẻ, tuy nhiên lại biển động nhất Loại sản phẩm này gia tăng thông qua nhu cầu mở tải khoản để giao dịch của khách hàng, thường mang lại cho ngân hàng số lượng khách hàng lớn, góp phần gia tăng thị phần nhanh nhất. Cùng với việc bán chéo các sản phẩm đi kèm như chuyển tiền, thanh toán séc, thu hộ.
phí thu được từ loại dịch vụ này đem lại nguồn thu đáng kể. Khả năng thỏa mãn được tối đa yêu cầu vả chất lượng của dịch vụ, khả năng về công nghệ mà ngân hàng áp dụng là yếu tổ quyết định để thu hút và giữ chân khách hàng sử dụng sản phẩm này, phẩm này vẫn là loại sản phẩm trọng yếu, có tính én định và tạo sự chú động cao. cho các ngân hàng. Nhưng đây là loại sản phẩm có chỉ phí cao, do lãi suất huy động của tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn cao hơn nhiều so với lãi suất huy động tiền gửi thanh toán.
Để chiếm lợi thế đối với loại sản phẩm này, các ngân hàng đã triển khai nhiều loại, nhiều hình thức khác nhau với kì hạn đa dạng, lãi suất hấp dẫn. Thông thường khi khách hảng sử dụng loại sản phẩm này, khách hảng có thể lựa chọn hình thức gửi một lẫn, nhiều lần và được rút khi đến hạn. Tuy nhiên khi cần khách hàng có thể rút trước hạn và sẽ được hưởng lãi suất không kỳ hạn hoặc có thể hướng lãi suất thỏa thuận giữa khách hàng và ngân hàng e, Sản phẩm giấy tờ có giá: Đây cũng là loại sản phẩm HĐV truyền thống, thường được gọi là chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu.là loại sản phẩm khi ngân hàng phát hành đã cam kết phải trả cho khách hàng số tiễn nhất định với thời gian ấn định trong tương lai. Loại sản phẩm này có nhiễu loại khác như như giấy tờ có giá vô danh, ghi danh, ghi số, ngắn hạn, dài hạn.
Loại sản phẩm giống tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là được ấn định kỳ hạn với lãi suất huy động khả cao nhưng không linh hoạt bằng tiền gửi tiết kiệm do không được rút từng phần, không được rút trước hạn. Mục đích của loại sản phẩm này được các ngân hàng sử dụng cho các đợt cần tăng vốn nhanh và lớn, khi đó ngân hàng sẽ phát hành loại sản phẩm này với lãi suất hấp dẫn mang tính cạnh tranh hơn các sản phẩm đang cỏ. Ngày này, loại sản phẩm này đã được triển khai linh hoạt hơn, chứa đựng nhiều tiện ích hơn như có thể được chuyển nhượng, được rút trước hạn, được vay cằm cổ.2 Dịch vụ tín dụng bán lẻ Song song với sản phẩm huy động vốn, sản phẩm tín dụng là loại sản phẩm cơ bản đặc trưng của ngân hàng, trong đó tín dụng bán lẻ (TDBL) được chia làm 02 nhóm chủ yếu là nhóm tín dụng có tài sản đảm bảo và nhóm tín dụng không có tải sản đảm bảo. @, Tín dụng bán lẻ cô tài sản đảm bảo, bao gồm các đổi tượng cấp tín dựng sau: + Tín dụng tiêu dùng có tài sản đảm bảo; là khoản cho vay cá nhân, khách hàng phải đáp ứng đẩy đủ các yêu cầu về tải sản đảm bảo khi sử dụng các sản phẩm cho vay (như vay mua nhà, vay mua ô tô.) của ngân hàng.