Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu 1. Khái niệm về thu nhập - Thu nhập của hộ nông dân được hiểu là phần giá trị sản xuất tăng thêm mà hộ được hưởng để bù đắp cho thù lao lao động của gia đình, cho tích lũy và tái sản xuất mở rộng nếu có. Thu nhập của hộ phụ thuộc vào kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh mà hộ thực hiện.
Có thể phân thu nhập của hộ nông dân thành ba loại: Thu nhập từ nông nghiệp, thu nhập từ phi nông nghiệp và thu nhập khác. Khi nghiên cứu thu nhập của hộ nông dân chúng ta thường đề cập đến các khái niệm sau: - Tổng thu nhập của hộ là toàn bộ giá trị nhận được từ các nguồn thu bằng tiền của hộ dân chủ yếu là từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, rừng, làm thuê, ngành nghề thủ công, dịch vụ, nguồn thu từ ngân sách và các nguồn thu khác trong một khoảng thời gian thường tính là 01 năm. Các khoản thu đó có thể bao gồm có thu hiện vật và thu bằng tiền, thu từ sản xuất kinh doanh và thu ngoài sản xuất kinh doanh. Thu trong sản xuất kinh doanh là thu từ sản xuất, làm thuê, lương,.
Thu từ ngoài sản xuất kinh doanh là các nguồn từ nước ngoài gửi về, từ anh em họ hàng, từ các hợp đồng kinh tế. - Tổng chi của hộ là toàn bộ chi phí bằng tiền mà hộ bỏ ra bao gồm chi cho sản xuất và chi cho tiêu dùng. + Chi sản xuất bao gồm chi phí vật chất và chi phí khác bằng tiền để sản xuất ra sản phẩm (chi phí khả biến mua ở bên ngoài). + Chi tiêu dùng là các khoản chi ngoài sản xuất phục vụ cho đời sống hàng ngày của hộ.
e 5 - Thu nhập thực tế hay còn gọi là thực thu của hộ: bằng tổng thu trừ đi các chi phí cho sản xuất của hộ. - Tiết kiệm của hộ bằng tổng thu trừ đi toàn bộ chi phí bao gồm cả chi sản xuất và chi tiêu dùng của hộ. Đặc điểm thu nhập của hộ nông dân Thu nhập của hộ nông dân, đặc biệt là nông dân miền núi có một đặc trưng cơ bản là gắn liền với đất và rừng. Cùng với sự phát triển của xã hội, sự thay đổi về quyền sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là tài nguyên đất, Thu nhập của các hộ nông dân miền núi đã có những biến đổi và ngày càng có chiều hướng đa dạng hơn.
Qua thực tế cho thấy, ngoài thu nhập từ đất canh tác nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất rừng và sản phẩm rừng (săn bán, hái lượm), các hộ dân tộc còn có các nguồn thu từ chăn nuôi, nghề phụ, làm thuê, bán hàng, hoạt động du lịch sinh thái, và mới nhất là thu từ dịch vụ môi trường rừng và thu từ chuyển nhượng chứng chỉ các bon. Đặc điểm thu nhập của đồng bào dân tộc thiểu số bao gồm các khoản thu nhập sau: - Thu nhập từ nông nghiệp: Bao gồm thu từ trồng trọt (thu từ cây lương thực, thực phẩm như lúa, ngô, khoai, sắn thu trồng cây ăn quả như vải nhẵn, hồng xiêm, bưởi, mít; thu từ trồng cây công nghiệp như chè, cà phê, sắn); thu từ chăn nuôi (trâu bò, lợn, gà, dê,. - Thu nhập từ thuỷ sản bao gồm nuôi cá, ếch, ba ba, rắn. - Thu nhập phi nông nghiệp bao gồm: + Thu nhập từ công nghiệp và ngành nghề thủ công truyền thống bao gồm: chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, gia công cơ khí, dệt vải.
+ Thu nhập từ dịch vụ du lịch sinh thái bao gồm thu từ bàn hàng, phục vụ ăn ở, phục vụ tham quan văn hoá truyến thống bản làng, hướng dẫn du lịch. + Thu nhập phi nông nghiệp còn lại bao gồm cắt tóc, làm thuê, thợ nề, thợ mộc, chạy xe ôm. e 6 + Thu nhập khác bao gồm các nguồn thu từ các hoạt động làm thêm, làm thuê lương hưu, trợ cấp xã hội và sản xuất hoặc các khoản thu nhập bất thường khác. - Thu nhập từ lâm nghiệp là khoản tiền thu từ các hoạt động của ngành lâm nghiệp bao gồm các hoạt động sản xuất, kinh doanh, cung ứng dịch vụ môi trường rừng, tham gia nhận khoán bảo vệ rừng.
+ Thu nhập từ lâm nghiệp thông qua các hoạt động sản xuất, kinh doanh gồm: Tạo cây giống, trồng rừng, khai thác gỗ và lâm sản phụ từ rừng (gỗ, củi, tre nứa, song, mây, thu hái cây thuốc, ong rừng.), chế biến gỗ, thu từ chặt gỗ lậu, thu từ săn bắt động vật và chim thú rừng; + Thu nhập từ hoạt động cung ứng dịch vụ môi trường rừng gồm: Bán dịch vụ cho các nhà máy, khu công nghiệp xả thải khí CO2; Bán dịch vụ điều tiết nguồn nước cho các nhà máy nước sạch, nhà máy thủy điện… tạo dịch vụ nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái. + Thu nhập từ hoạt động nhận khoán bảo vệ rừng ở hoạt động này cá nhân, tổ chức, hộ gia đình sẽ tham gia nhận một phần diện tích hoặc toàn bộ diện tích của một khu rừng để thực hiện công tác bảo vệ rừng và được chi trả từ các nguồn chính sách khuyến khích bảo vệ rừng của chính phủ hoặc thông qua các dự án phi chính phủ. Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập Trên thế giới và Việt Nam đã có khá nhiều tác giả nghiên cứu về mối quan hệ giữa yếu tố nguồn lực và thu nhập của nông hộ. Theo các nghiên cứu của Abdulai & CroleRees (2001), Demurger và cộng sự, (2010), Janvry & Sadoulet (2001), Klasen và cộng sự (2013), Yang (2004), Yu & Zhu (2013), thu nhập của nông hộ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, bao gồm vốn, đất đai, trình độ học vấn, kinh nghiệm sản xuất, số lao động, khả năng đa dạng hóa thu nhập, cơ hội tiếp cận thị trường.
e 7 Các nghiên cứu ở trong nước cũng cho kết quả tương tự. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Lan Duyên (2014) cho thấy các yếu tố như trình độ học vấn, diện tích đất, thời gian cư trú tại địa phương, khoảng cách từ nơi ở đến trung tâm, lượng vốn vay, lãi suất và số lao động có ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ; Kết quả nghiên cứu của Chu Thị Kim Loan & Nguyễn Văn Hướng (2015) cũng chỉ ra rằng các nguồn lực của nông hộ như qui mô đất sản xuất, số lượng và trình độ học vấn của lao động, giá trị phương tiện sản xuất tỷ lệ thuận với thu nhập của hộ, trong đó qui mô đất sản xuất có ảnh hưởng lớn nhất. Ngoài ra, khả năng tiếp cận nguồn vốn vay, giới tính của chủ hộ và vị trí địa lý cũng có tác động tới thu nhập của nông hộ. Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ có thể lý giải như sau: - Trình độ học vấn của chủ hộ: Trình độ học vấn của chủ hộ có ảnh hưởng rất lớn đến các quyết định sản xuất và kinh doanh của hộ.
Thông thường, mối quan hệ giữa trình độ học vấn và thu nhập là quan hệ đồng biến, nghĩa là những chủ hộ có trình độ học vấn cao thì hộ đó sẽ có mức thu nhập cao hơn so với các hộ khác. - Tuổi của chủ hộ: Thông thường chủ hộ có lớn tuổi hơn sẽ có nhiều kinh nghiệm hơn trong sản xuất kinh doanh, do đó thu nhập của những hộ có chủ hộ cao tuổi sẽ có thu nhập cao hơn những hộ có chủ hộ ít tuổi hơn. Trên thực tế, vẫn có trường hợp chủ hộ trẻ tuổi hơn có thu nhập cao hơn. Điều này đươc lý giải bởi chủ hộ trẻ tuổi có khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật tốt hơn, mạnh dạn đầu tư mới hơn nên có thể thu được lợi nhuận cao hơn.
- Giới tính của chủ hộ: Đây cũng là một yếu tố được xét đến khi nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập. Chủ hộ là nam thường có xu hướng mạo hiểm, mở rộng quy mô, mở rộng sản xuất, mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật. Còn nếu chủ hộ là nữ thường chọn những phương án kinh doanh mang tính chất ổn định, an toàn, nhưng thu nhập mang lại không cao. e 8 - Đất đai của hộ: Đây là yếu tố trực tiếp, vô cùng quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân.
Nếu hộ có nhiều đất đai sẽ có nhiều cơ hội để có thu nhập cao hơn. - Dân tộc: Đặc điểm dân tộc ảnh hưởng đến thu nhập, vì mỗi dân tộc có phương thức sản xuất, thói quen và kinh nghiệm truyền thống sản xuất là khác nhau nên dẫn đến ảnh hưởng đến thu nhập. Vùng đệm vườn quốc gia Vùng đệm là một thuật ngữ tương đối mới, mặc dù nguyên lý của nó đã được sử dụng trong một thời gian dài. Quản lý vùng đệm là 1 lĩnh vực được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, một số khái niệm về vùng đệm trên thế giới và trong nước.
- Theo tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) định nghĩa vùng đệm như sau: Vùng đệm là những vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của KBT và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của KBT và chính vùng đệm đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh KBT. Điều này có thể thực hiện được bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể, đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế – xã hội của các cư dân sống trong vùng đệm. Gilmour và Nguyễn Văn Sản – IUCN Việt, năm 1999) - Khái niệm về vùng đệm ở Việt Nam: + Vùng đệm của VQG và KBTTN là vùng rừng hoặc vùng đất đai có dân cư nằm sát ranh giới các VQG, các KBTTN được thành lập nhằm giảm áp lực của dân địa phương đối với khu rừng phải bảo vệ nghiêm ngặt. Diện tích của vùng đệm không tính vào tổng diện tích của VQG hay KBTTN [2].
+ Gần đây nhất, khái niệm vùng đệm được thể chế hoá trong Quyết định số 08/2001/ QĐ – TTg của Chính phủ như sau: ‘‘Vùng đệm là vùng rừng hoặc vùng đất đai, mặt nước nằm sát ranh giới với các VQG và Khu BTTN; có tác động ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng. Mọi e 9 hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đệm; cấm săn bắt, bẫy bắt các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tượng bảo vệ”.