Tổng quan nghiên cứu

Cho thuê tài chính là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng đối với nền kinh tế, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng truyền thống bị hạn chế do thiếu tài sản bảo đảm. Tại Việt Nam, dư nợ cho thuê tài chính từng ghi nhận mức tăng trưởng vượt bậc từ hơn 13.969 tỷ đồng năm 2009 lên hơn 19.719 tỷ đồng vào năm 2012, tương đương mức tăng hơn 41%. Tuy nhiên, đi kèm với sự phát triển nóng là rủi ro tín dụng tiềm ẩn do công tác quản lý tài sản cho thuê còn nhiều bất cập, dẫn đến sự sụt giảm dư nợ toàn ngành xuống còn 15.540 tỷ đồng vào cuối năm 2014.

Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh của tác giả Lê Quang Thiệp, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Hòa tại Khoa Quản trị và Kinh doanh thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, đi sâu phân tích vấn đề cấp bách này. Đối tượng nghiên cứu trọng tâm là hoạt động quản lý tài sản cho thuê tài chính tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Cho thuê tài chính Công nghiệp Tàu thủy trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2015.

Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý tài sản cho thuê tài chính, đánh giá toàn diện thực trạng kiểm soát tài sản cả về mặt cơ lý tính lẫn giá trị tại doanh nghiệp, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc tối ưu hóa tỷ lệ tổn thất tài sản dưới ngưỡng an toàn 0,5%, nâng cao chất lượng tín dụng, giảm thiểu nợ xấu và bảo toàn nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp trong bối cảnh tái cơ cấu ngành công nghiệp tàu thủy.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 17 và Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 06 ban hành theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC, xác định bản chất cho thuê tài chính là việc chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản từ bên cho thuê sang bên thuê. Đồng thời, luận văn áp dụng khung pháp lý từ Nghị định số 16/2001/NĐ-CP và Nghị định số 65/2005/NĐ-CP để phân định các tiêu chí giao dịch cho thuê tài chính, bao gồm thời hạn thuê chiếm tối thiểu 60% thời gian trích khấu hao và tổng số tiền thuê tương đương giá trị tài sản tại thời điểm ký kết hợp đồng.

Các mô hình vận hành chính được phân tích gồm mô hình ba bên giữa bên cho thuê, bên thuê và nhà cung cấp thiết bị; mô hình hai bên; nghiệp vụ mua và cho thuê lại nhằm tái cấu trúc dòng vốn lưu động cho khách hàng; cùng mô hình đồng tài trợ tuân thủ quy định tại Thông tư 13/2010/TT-NHNN về giới hạn cấp tín dụng không quá 25% vốn tự có đối với một khách hàng và 50% đối với nhóm khách hàng liên quan. Nghiên cứu làm rõ sự khác biệt căn bản giữa quản lý tài sản cho thuê tài chính (tập trung vào máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải đường thủy, cần cẩu và động sản) so với quản lý tài sản thế chấp tại ngân hàng thương mại vốn chịu sự chi phối mạnh của bất động sản.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tài chính kiểm toán của Công ty Cho thuê tài chính Công nghiệp Tàu thủy giai đoạn 2008-2015, báo cáo thường niên của Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp quan sát thực địa và phỏng vấn chuyên sâu theo 5 bước chuẩn hóa. Cỡ mẫu phỏng vấn được thực hiện tại 7 công ty cho thuê tài chính trực thuộc các ngân hàng thương mại lớn tại Việt Nam thông qua phương pháp chọn mẫu có chủ đích. Việc lựa chọn phương pháp phân tích so sánh, thống kê mô tả và phân tích tổng hợp giúp tác giả đánh giá đa chiều các biến động về cơ cấu tài sản, tỷ lệ nợ xấu và hiệu quả của chu trình kiểm tra tài sản định kỳ 6 tháng một lần trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Quá trình nghiên cứu và tổng hợp dữ liệu được hoàn thiện vào năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả nghiên cứu chỉ ra sự sụt giảm nghiêm trọng về quy mô tín dụng và hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp cho thuê tài chính trong giai đoạn nghiên cứu. Năm 2013, tổng doanh thu của 8 công ty thành viên trong Hiệp hội đạt hơn 3.452 tỷ đồng nhưng tổng chi phí lên tới 5.066 tỷ đồng, dẫn đến mức lỗ trước thuế hơn 1.614 tỷ đồng. Đến năm 2014, bức tranh tài chính tiếp tục ảm đạm khi tổng chi phí ở mức 3.779 tỷ đồng vượt xa doanh thu 2.159 tỷ đồng, tạo ra khoản lỗ gần 1.620 tỷ đồng.

Thứ hai, cơ cấu danh mục tài sản cho thuê tài chính tại Công ty Cho thuê tài chính Công nghiệp Tàu thủy có sự mất cân đối lớn khi phụ thuộc quá nặng vào ngành công nghiệp đóng tàu và vận tải biển. Các tài sản đặc thù như tàu sông, tàu biển, cần trục tháp và dây chuyền cơ khí chuyên dụng chiếm tỷ trọng áp đảo, khiến rủi ro danh mục tăng vọt khi thị trường vận tải biển quốc tế suy thoái kéo dài.

Thứ ba, công tác kiểm tra, giám sát tài sản sau khi bàn giao bộc lộ nhiều lỗ hổng quản trị. Tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu gia tăng nhanh chóng trong giai đoạn 2013-2015, trong khi việc kiểm soát tình trạng kỹ thuật, thời hạn đăng kiểm phương tiện thủy và duy trì hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm tài sản chưa được số hóa đồng bộ, dẫn đến nguy cơ hao mòn vô hình và suy giảm giá trị thu hồi tài sản khi khách hàng mất khả năng thanh toán.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên bắt nguồn từ cả yếu tố khách quan lẫn chủ quan. Về mặt khách quan, sự đóng băng của thị trường đóng tàu sau khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm suy giảm nghiêm trọng doanh thu của các doanh nghiệp đi thuê, trực tiếp cản trở dòng tiền trả nợ định kỳ. Về mặt chủ quan, đơn vị chưa thiết lập được hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa theo thời gian thực để theo dõi biến động vật lý và giá trị thị trường của từng danh mục thiết bị.

Khi so sánh với các nghiên cứu cùng thời kỳ về khối công ty cho thuê tài chính trực thuộc ngân hàng thương mại như Vietcombank hay BIDV, rủi ro của Công ty Cho thuê tài chính Công nghiệp Tàu thủy tập trung cao hơn hẳn do danh mục thiếu sự đa dạng hóa ngành nghề. Dữ liệu thực trạng có thể được minh họa trực quan thông qua biểu đồ cơ cấu danh mục tài sản theo ngành kinh tế và bảng ma trận phân loại nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5 theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Kết quả này khẳng định rằng quản lý tài sản cho thuê tài chính không đơn thuần là thủ tục hành chính mà là mắt xích quyết định sự an toàn vốn của toàn bộ tổ chức tín dụng phi ngân hàng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa quản lý tài sản tập trung nhằm theo dõi toàn bộ vòng đời tài sản từ khâu tiền bàn giao đến thanh lý hợp đồng. Mục tiêu cụ thể là kiểm soát 100% hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch tài sản thuộc Bộ Tư pháp, giám sát hạn đăng kiểm phương tiện thủy và kiểm tra hạn mức bảo hiểm. Giải pháp này do Phòng Quản lý tài sản và Ban Công nghệ thông tin triển khai với lộ trình hoàn thành trong vòng 6 đến 12 tháng, hướng tới mục tiêu duy trì tỷ lệ tổn thất hoặc thất lạc tài sản dưới 0,5%.

Thứ hai, thực hiện tái cơ cấu danh mục tài sản cho thuê tài chính theo hướng đa dạng hóa các ngành kinh tế. Ban Lãnh đạo công ty cần chủ động giảm tỷ trọng tài sản đóng tàu xuống dưới mức 40% trong lộ trình 2 đến 3 năm, mở rộng đầu tư vào các thiết bị công nghiệp chế biến chế tạo, máy móc xây dựng dân dụng và phương tiện vận tải đường bộ có tính thanh khoản cao.

Thứ three, siết chặt quy trình kiểm tra hiện trường định kỳ 6 tháng một lần trên cả ba khu vực địa lý. Phòng Quản lý tài sản cần phối hợp chặt chẽ với các chi nhánh để đánh giá trực tiếp cường độ vận hành, lịch trình bảo dưỡng định kỳ và năng lực của người vận hành máy móc thiết bị, đảm bảo phát hiện sớm nguy cơ suy giảm công năng trước khi phát sinh nợ nhóm 3 trở lên.

Thứ tư, kiến nghị các cơ quan quản lý nhà nước hoàn thiện môi trường pháp lý. Đề xuất Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính rà soát, sửa đổi các quy định về trích lập dự phòng rủi ro tài sản cho thuê tài chính, tạo cơ chế thông thoáng hơn trong xử lý tài sản thu hồi và nới lỏng linh hoạt giới hạn cấp tín dụng theo Thông tư 13/2010/TT-NHNN nhằm hỗ trợ các công ty cho thuê tài chính lành mạnh hóa bảng cân đối kế toán.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, ban lãnh đạo và chuyên viên quản lý rủi ro tại các công ty cho thuê tài chính: Tài liệu cung cấp khung chỉ số đánh giá thực địa, phương pháp giám sát hồ sơ pháp lý và quy trình giảm thiểu hao mòn tài sản cho thuê trung - dài hạn.

Thứ hai, cán bộ thẩm định và quản lý tín dụng tại các ngân hàng thương mại: Giúp các chuyên viên so sánh trực quan cơ chế quản trị giữa tài sản bảo đảm thông thường và tài sản cho thuê tài chính, từ đó nâng cao kỹ năng kiểm soát dòng tiền của bên đi vay.

Thứ ba, các cơ quan quản lý nhà nước gồm Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và Cục Đăng kiểm Việt Nam: Nguồn dữ liệu thực tế giai đoạn 2008-2015 là căn cứ quan trọng để hoạch định các chính sách hỗ trợ phát triển thị trường tín dụng phi ngân hàng và đồng bộ hóa thủ tục đăng ký giao dịch tài sản.

Thứ tư, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Quản trị kinh doanh: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu với hệ thống số liệu thực tiễn và mô hình vận hành tín dụng thuê mua cụ thể tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Điểm khác biệt cốt lõi giữa quản lý tài sản cho thuê tài chính và tài sản thế chấp ngân hàng là gì? Trong cho thuê tài chính, quyền sở hữu pháp lý của tài sản thuộc về bên cho thuê trong suốt thời hạn hợp đồng, trong khi ngân hàng chỉ nắm giữ quyền xử lý tài sản bảo đảm của khách hàng. Đối tượng tài sản cho thuê tài chính tập trung vào máy móc, phương tiện vận tải động sản, không bao gồm quyền sử dụng đất hoặc nguyên vật liệu tồn kho.

Tại sao thị trường cho thuê tài chính Việt Nam chịu tổn thất lớn giai đoạn 2013-2014? Do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế và ngành hàng hải, dư nợ toàn thị trường giảm mạnh từ 19.719 tỷ đồng năm 2012 xuống 15.540 tỷ đồng năm 2014. Năm 2013 và 2014, các công ty thành viên Hiệp hội chịu mức lỗ trước thuế lần lượt hơn 1.614 tỷ đồng và 1.620 tỷ đồng do chi phí trích lập dự phòng nợ xấu tăng cao.

Tiêu chí nào phản ánh trực tiếp chất lượng công tác quản lý tài sản cho thuê? Tiêu chí quan trọng hàng đầu là tỷ lệ mất mát hoặc thất lạc tài sản sau mỗi chu kỳ kiểm tra, được tính bằng số lượng tài sản không tìm thấy chia cho tổng số tài sản kiểm tra. Trong quản trị rủi ro chuẩn, tỷ lệ này phải luôn được kiểm soát chặt chẽ ở mức dưới 0,5%.

Doanh nghiệp đi thuê được hưởng những lợi ích tài chính nào so với vay vốn thông thường? Doanh nghiệp có thể tài trợ vốn lên tới 100% giá trị thiết bị mà không cần bất động sản thế chấp, bảo toàn vốn lưu động cho hoạt động sản xuất. Chi phí thuê được hạch toán vào chi phí hợp lý trước thuế, giúp doanh nghiệp tối ưu hóa nghĩa vụ thuế thu nhập và nhanh chóng đổi mới công nghệ.

Luận văn đưa ra giải pháp đột phá nào cho tài sản ngành đóng tàu tại doanh nghiệp nghiên cứu? Nghiên cứu đề xuất lộ trình đa dạng hóa danh mục tài sản, hạ tỷ trọng tài sản đóng tàu xuống dưới 40% trong vòng 2 đến 3 năm, kết hợp tái cấu trúc cơ sở dữ liệu số hóa và kiểm soát chặt chẽ 100% chứng nhận đăng kiểm phương tiện thủy để bảo đảm giá trị thanh lý.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý tài sản cho thuê tài chính theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 17 và hệ thống pháp luật Việt Nam.
  • Công trình phản ánh chân thực bức tranh tài chính giai đoạn 2008-2015, phân tích nguyên nhân dẫn tới khoản lỗ hơn 1.614 tỷ đồng năm 2013 và 1.620 tỷ đồng năm 2014 của toàn ngành.
  • Đề tài xác định các mắt xích yếu kém trong quản lý hiện trường, theo dõi đăng kiểm và bảo hiểm đối với danh mục tài sản đặc thù ngành tàu thủy tại doanh nghiệp.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất có tính khả thi cao, gắn liền với mục tiêu số hóa quản lý tài sản, đa dạng hóa danh mục ngành nghề và khống chế tỷ lệ thất lạc tài sản dưới 0,5%.
  • Doanh nghiệp cần khẩn trương thành lập ban chỉ đạo chuyển đổi số quản trị tài sản ngay trong quý tới, đồng thời các cơ quan quản lý nhà nước cần sớm hoàn thiện hành lang pháp lý để thị trường cho thuê tài chính phát huy tối đa vai trò khơi thông nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.