CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG KHẢO SÁT THIẾT KẾ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1. Chất lượng và quản lý chất lượng 1. Quan niệm về chất lượng 1. Các quan niệm về chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm [1] là một khái niệm đã xuất hiện từ lâu đời và đươc sử dụng rất phổ biến trong mọi hoạt động lĩnh vực của con người.
Trên thế giới cụm từ chất lượng được hiểu theo rất nhiều cách khác nhau: Quan niệm siêu việt cho rằng “chất lượng là sự tuyệt vời, hoàn hảo tuyệt đối của sản phẩm làm cho con người cảm nhận được”. Xuất phát từ bản thân sản phẩm thì: “Chất lượng sản phẩm được phản ánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm. Chất lượng là cái cụ thể và có thể đo lường được thông qua các đặc tính đó”. Theo khuynh hướng quản lý sản xuất: “Chất lượng sản phẩm là sự đạt được và tuân thủ đúng những tiêu chuẩn, yêu cầu kinh tế kỹ thuật đã được đặt ra, đã được thiết kế trước”.
Xuất phát từ thị trường từ phía khách hàng: Chất lượng là sự phù hợp với mục đích sử dụng Về mặt giá trị chất lượng là đại lượng đo bằng tỉ số giữa lợi ích thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm với chi phí bỏ ra để hoàn thành sản phẩm. Khuynh hướng tạo ra lợi thế cạnh tranh cho rằng: “Chất lượng là những đặc tính của sản phẩm và dịch vụ mang lại lợi thế cạnh tranh nhằm phân biệt nó với sản phẩm cùng loại trên thị trường”. Ở Việt Nam thì cụm từ “ chất lượng” được hiểu là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đó khả năng thoả mãn những nhu cầu cụ thể hoặc tiềm ẩn”. 4 Quan niệm về chất lượng toàn diện ”Chất lượng được đo bởi sự thoả mãn nhu cầu và là vấn đề tổng hợp Từ đó có thể hình thành khái niệm chất lượng tổng hợp: Chất lượng chính là sự thoả mãn yêu cầu trên tất cả các phương diện sau: - Đặc tính kỹ thuật của sản phẩm và dịch vụ đi kèm; - Giá cả phù hợp; - Thời hạn giao hàng; - Tính an toàn và độ tin cậy.
Phân loại chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm bao gồm 6 loại: chất lượng thiết kế, chất lượng chuẩn, chất lượng thực tế, chất lượng cho phép, chất lượng tối ưu và chất lượng toàn phần. - Chất lượng thiết kế: là chất lượng thể hiện những thuộc tính chỉ tiêu của sản phẩm được phác thảo trên cơ sở nghiên cứu thị trường được định ra để sản xuất, chất lương thiết kế được thể hiện trong các bản vẽ, bản thiết kế, các yêu cầu về vật liệu chế tạo, những yêu cầu về gia công, sản xuất, chế tạo,yêu cầu về bảo quản, về thử nghiệm và những yêu cầu hướng dẫn sử dụng. Chất lượng thiết kế còn gọi là chất lượng chính sách nhằm đáp ứng đơn thuần về lý thuyết với nhu cầu thị trường, còn thực tế có đạt được điều đó hay không thì nó còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố. - Chất lượng chuẩn: là loại chất lượng mà thuộc tính và chỉ tiêu của nó được phê duyệt trong qúa trình quản lý chất lượng và người quản lý chính là các cơ quan quản lý mà chính họ mới là người có quyền phê duyệt.
Sau khi phê chuẩn rồi thì chất lượng này trở thành pháp lệnh, văn bản pháp quy. - Chất lượng thực tế: là mức độ thực tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của sản phẩm và nó thể hiện sau quá trình sản xuất, trong quá trình sử dụng sản phẩm. - Chất lượng cho phép: là mức độ cho phép về độ lệch giữa chất lượng chuẩn và chất lượng thực tế của sản phẩm. Chất lượng cho phép do cơ quan quản lý chất lượng sản phẩm, cơ quan quản lý thị trường, hợp đồng quốc tế, hợp đồng giữa đôi bên quy định.
5 - Chất lượng tối ưu: biểu thị khả năng toàn diện đáp ứng nhu cầu thị trường trong điều kiện xác định với những chi phí xã hội thấp nhất. Nó nói len mối quan hệ giữa chất lượng sản phẩm và chi phí. - Chất lượng toàn phần: thể hiện mức tương quan giữa hiệu quả có ích cho sử dụng sản phẩm có chất lượng cao và tổng chi phí để sản xuất và sử dụng sản phẩm đó. Các thuộc tính của chất lượng Bao gồm 8 thuộc tính sau: - Thuộc tính kỹ thuật: phản ánh công dụng, chức năng của sản phẩm.
Nhóm này đặc trưng chỉ các thuộc tính xác định chức năng tác dụng chủ yếu của sản phẩm được qui định bởi các chỉ tiêu kết cấu vật chất, thành phần cấu tạo và đặc tính về cơ, lý, hóa của sản phẩm - Tuổi thọ sản phẩm: đặc trưng cho tính chất của sản phẩm giữ được khả năng làm việc bình thường theo đúng tiêu chuẩn thiết kế trong một thời gian nhất định trên cơ sở bảo đảm đúng các yêu cầu về mục đích, điều kiện sử dụng và chế độ bảo dưỡng qui định. Tuổi thọ là một yếu tố quan trọng trong quyết định lựa chọn mua hàng của người tiêu dùng. - Các yếu tố thẩm mỹ: Nhóm thuộc tính này phản ánh đặc trưng về sự truyền cảm, sự hợp lý về hình thức, dáng vẻ, kết cấu, kích thước, sự hoàn thiện, tính cân đối, màu sắc, trang trí, tính hiện đại. - Độ tin cậy của sản phẩm: Độ tin cậy được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhất phản ánh chất lượng của một sản phẩm và đảm bảo cho doanh nghiệp có khả năng duy trì và phát triển thị trường của mình.
- Độ an toàn: là những chỉ tiêu an toàn trong khai thác vận hành sản phẩm. Đây là chỉ tiêu quan trọng đặc biệt là chỉ tiêu an toàn về sức khỏe của khách hàng đều phải có trong mỡi sản phẩm hiện nay. - Mức độ gây ô nhiễm của sản phẩm: là một yêu cầu bắt buộc các nhà sản xuất phải tuân thủ khi đưa sản phẩm của mình ra thị trường. 6 - Tính tiện dụng (thích dụng): phản ánh những đòi hỏi về tính sẵn có, tính dễ vận chuyển, bảo quản, dễ sử dụng của sản phẩm và khả năng thay thế khi có những bộ phận bị hỏng.
- Tính kinh tế của sản phẩm: Đây là yếu tố rất quan trọng đối với những sản phẩm khi sử dụng có tiêu hao nguyên liệu, năng lượng. Nó phản ánh chất lượng và khả năng cạnh tranh của các sản phẩm trên thị trường. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm gồm 2 nhóm: nhóm nhân tố bên trong và nhóm nhân tố bên ngoài. Nhóm yếu tố bên ngoài: - Nhu cầu của nền kinh tế: chất lượng sản phẩm bị chi phối, rằng buộc bởi hoàn cảnh, điều kiện nhu cầu nhất định của nền kinh tế, thể hiện ở: + Nhu cầu của thị trường: là xuất phát điểm của quá trình quản lý chất lượng.
Trước khi tiến hành thiết kế, sản xuất sản phẩm, cần phải tiến hành nghiêm túc, thận trọng công tác điều tra nghiên cứu nhu cầu thị trường, phân tích môi trường kinh tế - xã hội, nắm bắt chính xác các yêu cầu chất lượng cụ thể của khách hàng cũng như những thói quen tiêu dùng, phong tục tập quán, văn hóa lối sống, khả năng thanh toán của khách hàng… để có chính sách đúng đắn. + Trình độ kinh tế, trình độ sản xuất: đảm bảo chất lượng luôn là vấn đề nội tại của bản than nền sản xuất xã hội, nhưng việc nâng cao năng suất không thể vượt qua khả năng cho phép của nền kinh tế. + Chính sách kinh tế: hướng đầu tư, hướng phát triển loại sản phẩm cũng như mức thỏa mãn các loại nhu cầu cũng được thể hiện trong các chính sách kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm. + Sự phát triển của khoa học kỹ thuật: trong thời đại ngày nay trình độ chất lượng của bất cứ sản phẩm nào cũng gắn liền và chi phối bởi sự phát triển của khoa học kỹ thuật, 7 đặc biệt là sự ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Hướng chính của việc áp dụng các kỹ thuật tiến bộ hiện nay là:. Sáng tạo vật liệu mới thay thế. Cải tiến hay đổi mới công nghệ. Cải tiến sản phẩm cũ và thay thế sản phẩm mới - Hiệu lực quản lý.
Có thể nói rằng khả năng cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế quản lý của mỗi đất nước. Hiệu quả quản lý nhà nước là đòn bẩy quan trọng trong việc quản lý chất lượng sản phẩm, đảm bảo cho sự phát triển ổn định của phát triển sản suất, đảm bảo uy tín và quyền lợi của nhà sản xuất và người tiêu dùng. Mặt khác nó còn góp phần tạo tính tự chủ, độc lập, sáng tạo trong cải tiến chất lượng sản phẩm của các tổ chức, hình thành môi trường thuận lợi cho việc huy động các nguồn lực, các công nghệ mới, tiếp thu ứng dụng các phương pháp quản lý chất lượng hiện đại. Nhóm yếu tố bên trong Có 4 yếu tố cơ bản là: men (con người); methods (phương pháp); machines(máy móc thiết bị); materials (nguyên vật liệu).
- Men (con người): là lực lượng lao động trong tổ chức bao gồm tất cả các thành viên trong tổ chức từ cán bộ lãnh đạo đến nhân viên. Năng lực phẩm chất của mỗi thành viên và mối lien kết giữa các thành viên có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. - Methods (phương pháp): phương pháp công nghệ, trình độ tổ chức quản lý và tôt chức sản xuất của tổ chức. Với phương pháp công nghệ thích hợp, với trình độ quản lý và tổ chức sản xuất tốt sẽ tạo điều kiện cho tổ chức có thể khai thác tốt nhất các nguồn lực hiện có, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm.
8 - Machines (máy móc, thiết bị): khả năng về công nghệ, máy móc và thiết bị của tổ chức. Trình độ công nghệ, máy móc thiết bị có tác động rất lớn trong việc nâng cao những tính năng kỹ thuật của sản phẩm và nâng cao năng suất lao động. - Materials (nguyên vật liệu): vật tư, nguyên nhiên liệu và hệ thống tổ chức đảm bảo vật tư, nguyên nhiên liệu của tổ chức. Nguồn vật tư, nguyên nhiên liệu được đảm bảo những yêu cầu chất lượng và được cung cấp đúng số lượng, đúng thời hạn sẽ tạo điều kiện đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Quan niệm về chất lượng công trình xây dựng a.