Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỂ C ơ BẢN VỂ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NHTM Tín dụng ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế, nó thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung vốn và phần bổ lại nguồn lực đầu tư của xã hội vào lĩnh vực của nền kinh tế một cách có hiệu quả, qua kênh tín dụng NHTW và Chính phủ các nước có thể điều tiết các cân đối của toàn nền kinh tế. Tín dụng của một hệ thống ngân hàng lành mạnh phản ánh năng lực hấp thụ vốn của nền kinh tế quốc gia, mức rủi ro thấp của quốc gia chính là điều kiện để gọi các dòng vốn từ bên ngoài để phát triển kinh tế đất nước. Trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, tính minh bạch của hệ thống pháp luật còn thấp, chuẩn mực về kế toán, kiểm toán còn rất sơ khai, để phát huy được vai trò của tín dụng ngân hàng cho phát triển kinh tế bền vững, thì vấn đề quản trị rủi ro tín dụng không chỉ còn là yêu cầu của riêng ngành ngân hàng Việt Nam mà là yêu cầu hết sức quan trọng của nền kinh tế. Rủi ro tín dụng 1.
Khái niệm rủi ro tín dụng Có nhiều quan niệm về rủi ro tín dụng (RRTD) mà chúng ta có thể dẫn ra là: Quan điểm của A.Langc định nghĩa : “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn”. Quan điểm của Timmothy W.Koch : “Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc vốn vay không được thanh toán hay thanh toán trễ hạn”. Rủi ro tín dụng theo định nghĩa của u ỷ ban Basle thuộc Ngân hàng Thanh toán Quốc tế là: “Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thoả thuận”; cũng theo Ưỷ ban này, một định nghĩa khác có thể nêu ra là “Rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng là sự vỡ nợ của người giao ước ữong hợp đồng”, trong đó sự vỡ 4 nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả gốc và/hoặc lãi”. Theo quyết định 493/QĐ-NHNN, của Thống đốc NHNN, tại khoản 1, điều 2 đề cập khái niệm “rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất ừong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” Có thể có nhiều cách khác nhau để định nghiã về rủi ro tín dụng, song các quan niệm về rủi ro tín dụng đêu hội tụ với nhau về bản chất đó là.Rủi ro tín dụng là khả năng (xác xuất) xảy ra những thiệt hại về kinh tế mà NHTM phải gánh chịu do khách hàng vay vốn thanh toán nợ không đúng hạn hoặc không hoàn trả được nợ vay (gồm gốc vàỉhoặc lãi).
Rủi ro tín dụng có thể gây tổn thất về tài chính cho NHTM đó là làm giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn; trong trường hợp nghiêm trọng sẽ dẫn tới thua lỗ, nếu ở mức độ cao hơn có thê dân đến phá sản ngân hàng. Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động tín dụng —một hoạt động quan trọng nhất của NHTM, qui mô tài sản có sinh lời được phân bổ vào các khoản cho vay là lớn nhất. Vì vậy khi thực hiện cấp tín dụng, NHTM thường cố gắng phan tích các yếu tô của người vay sao cho đạt độ an toàn cao nhất. Cần phải có sự phân biệt giữa hai thuật ngữ được đề cập trong các khái niệm về rủi ro tín dụng đó là rủi ro và tổn thất (khi rủi ro xảy ra gây thiệt hại về kinh tế).
Khi ta hiểu rủi ro tín dụng theo nghĩa xác xuất là khả năng khách hàng không trả được nợ, vì vậy cần nhận thức rõ khả năng này có thê xảy ra, có thề không xảy ra\ khi rủi ro tín dụng xảy ra, khách hàng thực sự không trả được nợ đúng hạn, số tiền mà ngân hàng không thu hồi được thì dược hiêu là tôn thất ngân hàng phải gánh chịu. Trên thực tế, sẽ rất dễ bị nhầm lẫn và hiểu đồng nhất giữa giá trị tổn thất với khái niệm rủi ro tín dụng. Sự nhầm lẫn này sẽ tác dộng bất lợi đến hoạt động quản trị rủi ro tín dụng, trong đó ảnh hưởng lớn nhất đên tính chủ động trong các biện pháp quản lý rủi ro. Đơn cử, xuất phát từ quan niệm chỉ khi khoản vay phát sinh quá hạn mới có rủi ro và việc trích lập quĩ dự phòng rủi ro dựa trên cơ sở những khoản nợ quá hạn, chứ không đánh giá trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trên cơ sở mức độ xác xuất xảy ra nợ quá hạn, sẽ dẫn đến tình trạng: Thứ nhất, những khoản cho vay 5 mà theo xác xuất thực sự có rủi ro sẽ không được trích lập; Thứ hai, làm mất tính chủ động trong quản trị rủi ro tín dụng, mức độ đáp ứng của nguồn bù đắp rủi ro sẽ rất hạn chế, trong những trường hợp có cú sốc thì ngân hàng sẽ rất khó khăn ữong việc chống đỡ rủi ro; Thứ ba, nó làm cho ngân hàng không thể hiểu và đánh giá đúng mức độ rủi ro của mình, mặc dù trên thực tế có những ngân hàng có nợ quá hạn rất thấp, nhưng danh mục tín dụng lại rủi ro rất lớn vì tập trung quá nhiều dư nợ vào nhóm khách hàng hay ngành rủi ro phá sản cao.
Đây chính là luận cứ xây dựng chính sách phân loại nợ, chủ động trích lập qũi dự phòng và sử dụng quĩ này trong quá trình quản trị RRTD. Quan hệ giữa rủi ro tín dụng với các rủi ro trong kinh doanh NHTM Hoạt động ngân hàng là hoạt động trên lĩnh vực rủi ro, vì vậy hoạt động ngân hàng vốn dĩ đã hàm chứa nhiều loại rủi ro, trong đó rủi ro tín dụng là rủi ro lớn nhất. Xét về quan hệ của rủi ro tín dụng với các rủi ro khác trong hoạt động ngăn hàng, thì bản thân rủi ro tín dụng lại không hoàn toàn độc lập mà nó tác động qua lại với các rủi ro khác như rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản. có thê rủi ro này là tiền đề của rủi ro khác, nguyên nhân của nguyên nhân.
Chính vì vậy, nếu chỉ đề cập đến rủi ro tín dụng mà không đề cập đến rủi ro khác sẽ là phiến diện, là khuyết thiếu trong nhận thức, thiếu đi tầm nhìn tổng thể và sẽ làm cho các biện pháp quản trị rủi ro tín dụng trong thực tế kém hiệu quả. Tương tự như rủi ro tín dụng, các loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng được xác định, phân chia theo nhiều cách khác nhau tùy vào mục đích nghiên cứu, cũng như giai đoạn phát triển của sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Votja (1973) phân chia rủi ro theo loại hoạt động của ngân hàng, gồm: RRTD, rủi ro đầu tư, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động, rủi ro đạo đức, rủi ro uỷ quyền. Gargner (1986) phân loại rủi ro đối với hoạt động ngân hàng gồm: rủi ro chung (rủi ro thanh khoản, RRTD, rủi ro lãi suất), rủi ro quốc tế và rủi ro trả nợ.
Bên cạnh việc phân loại rủi ro hoạt động ngân hàng tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu, thì các loại rủi ro cũng phát triển theo thời gian, do có rủi ro mới phát sinh, và nó gắn với những sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Trong những năm gần đây người ta đề cập nhiều đến rủi ro tỷ giá, rủi ro uy tín, rủi ro công nghệ, rủi ro đa 6 dạng hoá .Theo xu hướng này, hai tác giả Greuning, H. Bratanovic (2003) đã đưa ra cách phân loại rủi ro hoạt động ngân hàng khá đầy đủ. Phân loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng Nguồn: Greuning, H.1 chúng ta thấy có thể phân loại rủi ro hoạt động ngân hàng theo bốn nhóm rủi ro chính, gồm: (1) rủi ro tài chính, (2) rủi ro hoạt động, (3) rủi ro kinh doanh/kinh tế, (4) rủi ro sự cố.
RRTD là một trong loại hình rủi ro nằm trong nhóm rủi ro tài chính. Qua sơ đổ có th ể thấy các loại rủi ro có mối liên hệ với nhau rất phức tạp. Khi rủi ro tín dụng xảy ra, khách hàng không trả được nợ rất có th ể kéo theo rủi ro thanh khoản do ngân hàng bị thiếu hụt tiền mặt đ ể trang trải nghĩa vụ tài chính đến hạn; sự lệch pha quá lớn giữa kỳ hạn của tài sản có nhạy cảm với lãi suất vói tài sản nợ nhạy cảm lãi suất, có thê ngăn hàng chịu rủi ro lãi suất lớn. Đối với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, việc các ngân hàng niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, các thông tin của ngân hàng đòi hỏi phải công khai minh bạch để công chúng giám sát, thì rủi ro tín dụng có liên hệ chặt c h ẽ đối vói rủi ro uy tín: khoản nợ xấu nếu không được quản trị một cách chủ động sẽ dẫn đến không ổn định về lợi nhuận, từ đó làm giảm lòng tin của công chúng.
Nghiêm trọng hơn nợ quá hạn tăng cao sẽ gây tâm lý hoang mang cho công chúng gửi tiền, dẫn đến khủng hóảng của cả hệ thống ngân hàng, thậm chí cả nền 7 kinh tế của một quốc gia và khu vực. Mặc dù, tính minh bạch và thông tin của các NHTM Việt Nam chưa tiến kịp thông lệ quốc tế nhưng những thông tin không tốt chất lượng tín dụng của NHCP Phương Nam, hay thông tin sai lệch về khoản cho vay 10 triệu USD của NHCP Nông Thôn Ninh Bình đối với trùm lừa đảo Nguyễn Văn Chi được phương tiện thông tin đại chúng đưa tin đã gây ra tâm lý hoang mang và công chúng gửi tiền đã đến rút hàng loạt, NHNN và các ngành chứng năng đã phải vào cuộc kịp thời để ngăn chặn. Rủi ro kinh doanh/kinh tế, loại rủi ro này xảy ra khi môi trường chung của nền kinh tế đi xuống, tính trạng ế ẩm hàng hoá, sức mua giảm, khách hàng vay suy giảm khả năng trả nợ làm gia tăng tín dụng xấu.