Chương 1 trình bày các khái niệm cơ bản, cơ sở lý thuyết về công nghệ, năng lực công nghệ, CNTT và năng lực CNTT tại nhà trường Y Dược mà luận văn sẽ căn cứ, sử dụng trong quá trình điều tra khảo sát và nghiên cứu đề xuất các giải pháp. Chương 2: Kết quả điều tra thực trạng năng lực CNTT tại Học viện Quân y. Chương 2 trình bày kết quả điều tra thực trạng năng lực CNTT tại các tại Học viện Quân y; bao gồm các số liệu đã được thống kê, xử lý cùng các nhận xét đánh giá về thực trạng năng lực CNTT của Học viện Quân y được so sánh với số liệu các trường đại học Y Dược trong toàn quố c. Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực CNTT tại nhà trường Y Dược.
Chương 3 trình bày các giải pháp nâng cao năng lực CNTT tại nhà trường Y Dược và một số giải pháp cụ thể nâng cao năng lực CNTT tại Học viện Quân y. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. Công nghệ, năng lực công nghệ. Định nghĩa công nghệ.
Có thể nói công nghệ xuất hiện đồng thời với sự hình thành xã hội loài người. Từ “công nghệ” xuất phát từ chữ Hy Lạp “Teknve – Techne” có nghĩa là một công nghệ hay một kỹ năng; Và “λoyoσ –logos” có nghĩa là một khoa học, hay sự nghiên cứu. Như vậy, thuật ngữ Technology (Tiếng Anh) hay Technologie (Tiếng Pháp) có nghĩa là khoa học về kỹ thuật hay sự nghiên cứu có hệ thống về kỹ thuật và thường được gọi là công nghệ học. Trong thực tế, do sự phong phú, đa dạng của công nghệ khiến những người sử dụng một số công nghệ cụ thể trong những điều kiện hoàn cảnh không giống nhau dẫn đến khái quát của họ về công nghệ khác nhau.
Bên cạnh đó, sự phát triển vũ bão của công nghệ làm thay đổi nhiều quan niệm cũ dẫn đến có nhiều định nghĩa hay khái niệm về công nghệ như sau: - Theo Tổ chức phát triển Công nghệ của Liên hợp quốc UNIDO[17]: “Công nghệ là việc áp dụng khoa học về công nghiệp bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và phương pháp”. Với định nghĩa này thì Công nghệ được hiểu với bản chất là “kiến thức khoa học”. - Theo tác giả Baranson – 1976 [12]: “Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một qui trình hoặc các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh”. Ở định nghĩa này bản chất công nghệ là tập hợp các kiến thức với mục tiêu là sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp.
- Theo quan điểm của Sharif -1986 [12]: “Công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo, đổi mới và lựa chọn từ những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ưu vào tập hợp các yếu tố bao gồm môi trường vật chất, xã hội và văn hóa”. Theo Sharif, công nghệ là tập hợp của “phần cứng” và “phần mềm”, gồm 4 dạng cơ bản: thể hiện ở dạng vật chất 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. - Theo quan điểm của Gaynor G[17]: “Công nghệ bao gồm các phương tiện để thực hiện được một nhiệm vụ, bao gồm tất cả những cần thiết để chuyển các nguồn lực trở thành các sản phẩm hoặc dịch vụ. Gồm kiến thức và các nguồn lực cần thiết để đạt được một mục tiêu nào đó.
Là phần kiến thức khoa học và kỹ thuật có thể được áp dụng trong việc thiết kế sản phẩm hay các qui trình hoặc áp dụng trong việc nghiên cứu kiến thức mới”. Với quan điểm như vậy, Gaynor đã sử dụng định nghĩa công nghệ là các phương tiện để thực hiện được một nhiệm vụ, bao gồm tất cả những gì cần thiết để chuyển các nguồn lực thành sản phẩm hoặc dịch vụ khi đề cập đến vấn đề quản lý công nghệ. - Theo Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương – ESCAP [1,16]: “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Công nghệ bao gồm kiến thức, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ”.
Theo định nghĩa này, công nghệ bao gồm 2 phần: phần “kiến thức” và phần “thiết bị”. - Theo Luật Khoa học và Công nghệ của Việt Nam [28]: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, qui trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biển đổi các nguồn lực thành sản phẩm”. Định nghĩa cho thấy công nghệ gồm hai thành phần: “kiến thức” và “công cụ, phương tiện” để tạo ra các sản phẩm. Qua các định nghĩa nêu trên, với góc độ nhìn nhận khác nhau cho thấy có hai quan điểm cơ bản về công nghệ, gồm: - Công nghệ là “kiến thức”: dạng kiến thức, cách thức, sự áp dụng khoa học… và theo quan điểm này công nghệ là “phần mềm” mà không bao gồm “phần cứng” như: máy móc, thiết bị, công cụ sản xuất.
18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Công nghệ là “kiến thức” và “thiết bị”: ngoài phần kiến thức còn gọi là “phần mềm” như quan điểm nêu trên thì công nghệ còn bao gồm “phần cứng”: thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất, vật thể… Tóm lại, công nghệ có thể được hiểu như mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phương pháp (phần mềm) được lưu giữ dưới các dạng khác nhau (con người, ghi chép…) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất (phần cứng) và một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ…) được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ. Trong luận văn sử dụng định nghĩa công nghệ theo quan điểm của Sharif. Các thành phần cơ bản của công nghệ. - Phần kỹ thuật (Technoware – ký hiệu T): công nghệ hàm chứa trong các vật thể bao gồm các công cụ, thiết bị, máy móc, phương tiện và các cấu trúc hạ tầng khác.
Trong công nghệ sản xuất, các vật thể này thường làm thành dây chuyền để thực hiện quá trình biến đổi (thường gọi là dây chuyền công nghệ), ứng với một qui trình công nghệ nhất định, đảm bảo tính liên tục của quá trình công nghệ. - Phần con người (Humanware – ký hiệu H): Công nghệ hàm chứa trong kỹ năng công nghệ của con người làm việc trong công nghệ bao gồm kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng do học hỏi, tích luỹ được trong quá trình hoạt động, nó cũng bao gồm các tố chất của con người như tính sáng tạo, sự khôn ngoan, khả năng phối hợp, đạo đức lao động… - Phần tổ chức (Orgaware – ký hiệu O): Công nghệ hàm chứa trong khung thể chế để xây dựng cấu trúc tổ chức, bao gồm những qui định về trách nhiệm, quyền hạn, mối quan hệ, sự phối hợp của các cá nhân hoạt động trong công nghệ, kể cả những qui trình đào tạo công nhân, bố trí sắp xếp thiết bị nhằm sử dụng tốt nhất phần kỹ thuật và phần con người. - Phần thông tin (Inforware – ký hiệu I): Có thể gọi thành phần này là công nghệ hàm chứa trong các dữ liệu đã được tư liệu hoá được sử dụng trong công nghệ, bao gồm các dữ liệu về phần kỹ thuật, về phần 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com con người và phần tổ chức. Ví dụ, dữ liệu về phần kỹ thuật như: Các thông số về đặc tính của thiết bị, số liệu về vận hành thiết bị, để duy trì và bảo dưỡng, dữ liệu để nâng cao và dữ liệu để thiết kế các bộ phận của phần kỹ thuật.
Trong 04 thành phần trên, phần kỹ thuật được gọi là “phần cứng” của công nghệ, còn các phần: con người, tổ chức và thông tin được gọi là “phần mềm” của công nghệ. Định nghĩa năng lực công nghệ. Cho đến nay, trải qua các giai đoạn khác nhau, với các góc độ nhìn nhận khác nhau, hiện có một số định nghĩa về năng lực công nghệ như sau: - Theo quan điểm của S. Lall [1]: “Năng lực công nghệ là khả năng triển khai những công nghệ đã có một cách có hiệu quả và đương đầu được với những thay đổi lớn về công nghệ”.
Lall cho rằng năng lực công nghệ phản ánh bởi năng lực tổng hợp thực hiện những nhiệm vụ trong chuỗi hoạt động “mua - sử dụng – thích nghi - cải tiến”, và chia năng lực công nghệ thành các nhóm sau: o Năng lực chuẩn bị đầu tư. o Năng lực thực hiện dự án. o Năng lực thực hiện các công việc về công nghệ quá trình (Proccess Techonogy). o Năng lực lập kế hoạch tổng thể và điều hành sản xuất.
o Năng lực chuyển giao công nghệ. o Năng lực đổi mới về tổ chức để phát triển công nghệ. Fransman [1,16] - một chuyên gia về quản lý công nghệ: “Năng lực công nghệ liên quan đến năng lực của doanh nghiệp để tiến hành các hoạt động nhằm biến đổi đầu vào thành đầu ra”. Năng lực công nghệ bao gồm các yếu tố như sau: o Năng lực tìm kiếm các công nghệ để thay thế, lựa chọn công nghệ thích hợp đã nhập khẩu.
o Năng lực nắm vững công nghệ nhập khẩu và sử dụng hiệu quả. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com o Năng lực thích nghi công nghệ nhập khẩu với hoàn cảnh, điều kiện đơn phương tiếp nhận. o Năng lực cung cấp công nghệ đã có, và năng lực đổi mới. o Năng lực thể chế hóa việc tìm kiếm những đổi mới và những đột phá quan trọng nhờ phát triển các phương tiện nghiên cứu và triển khai trong nước.
o Tiến hành nghiên cứu cơ bản để tiếp tục nâng cấp công nghệ. - Theo Viện nghiên cứu phát triển Thái Lan TDRI [1]: phân chia năng lực công nghệ theo ba nhóm độc lập: o Năng lực tiếp nhận: bao gồm năng lực tìm kiếm, đánh giá, đàm phán, mua bán, chuyển giao, thiết kế nhà xưởng, lắp đặt các phương tiện sản xuất. o Năng lực vận hành: gồm năng lực thao tác, bảo dưỡng, đào tạo, quản lý, kiểm tra chất lượng. o Năng lực thích nghi: gồm tiếp thu kiến thức, hấp thụ công nghệ, thích nghi và cải tiến sản phẩm và qúa trình.
o Năng lực đổi mới: gồm R&D, đổi mới sản phẩm và quá trình. - Theo Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc UNIDO [17], các yếu tố năng lực công nghệ bao gồm: o Khả năng đào tạo nhân lực. o Khả năng nghiên cứu cơ bản. o Khả năng thử nghiệm phương tiện kỹ thuật.
o Khả năng tiếp nhận và thích nghi công nghệ. o Khả năng cung cấp và xử lý thông tin.