CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẺ THANH TOÁN VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH THẺ THANH TOÁN 1. Tổng quan về thẻ thanh toán của ngân hàng 1. Khái niệm thẻ thanh toán Những năm đầu thế kỷ XX, nền kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ, thị trường trao đổi hàng hoá không còn bó hẹp trong phạm vi từng quốc gia, nhu cầu tiêu dùng cá nhân không ngừng tăng lên. Trước tình hình trên đã buộc các ngân hàng, tổ chức tài chính các nước liên kết với nhau, đưa ra các hình thức, phương tiện thanh toán chung toàn cầu, đó là hình thức thanh toán bằng thẻ ngân hàng.
Năm 1960, Bank of America cho ra đời sản phẩm thẻ thanh toán đầu tiên là Bank Americard, sau này là tổ chức thẻ quốc tế Visa. Năm 1967, Western State Bank Card Association liên kết với Interbank cho ra đời thẻ Master Charge, sau đổi tên thành MasterCard. Hiện nay, 2 tổ chức này vẫn đang là 2 tổ chức thẻ lớn mạnh và phát triển nhất thế giới. Hình thức thanh toán bằng thẻ nhanh chóng được ứng dụng rộng rãi trên thế giới.
Tại Việt Nam, chiếc thẻ đầu tiên được chấp nhận vào năm 1990 khi VCB ký hợp đồng làm đại lý chi trả thẻ VISA với ngân hàng Pháp BFCE và đây cũng là bước khởi đầu cho thẻ ngân hàng phát triển ở Việt Nam. Có nhiều khái niệm để diễn đạt thẻ thanh toán [Đặng Thị Uyên Phương, 2012]: - Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ mà không dùng tiền mặt hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý hay các máy rút tiền tự động ATM. - Thẻ thanh toán là một loại thẻ giao dịch tài chính được phát hành bởi ngân hàng, các định chế tài chính hay các công ty. - Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà người chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán.
4 - Thẻ thanh toán là một phương thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống nối mạng vi tính kết nối trung tâm phát hành thẻ với các điểm thanh toán. Nhờ vậy, cuộc thanh toán trở nên nhanh chóng, thuận lợi và khá an toàn cho các đối tượng tham gia. Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về thẻ thanh toán nhưng có những điểm chung là thẻ dùng để rút tiền mặt, thanh toán hàng hóa, được phát hành bởi ngân hàng, định chế tài chính. Nhưng nhìn chung thẻ thanh toán là một phương thức thanh toán mà người sở hữu thẻ có thể dùng để thanh toán tiền, hàng hóa, dịch vụ hay rút tiền tự động thông qua máy đọc thẻ được lắp đặt ở các cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ (cửa hàng, khách sạn, sân bay,…), ở các máy rút tiền tự động lắp đặt nơi công cộng.
Phân loại thẻ thanh toán Thẻ thanh toán được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau như sau: Theo công nghệ sản xuất Căn cứ theo công nghệ sản xuất thì thẻ ngân hàng được chia làm ba loại sau: - Thẻ khắc chữ nổi (Embossing Card): Là loại thẻ được làm bằng nhựa dựa trên kỹ thuật khắc nổi với các thông tin cần thiết được khắc trên thẻ. Công nghệ này được sử dụng từ khi phát hành tấm thẻ nhựa đầu tiên và hiện nay không còn được sử dụng nữa vì kỹ thuật thô sơ, dễ bị làm giả. - Thẻ từ (Mangnetic Stripe): Là loại thẻ có dải băng từ ở mặt sau thẻ. Mọi thông tin liên quan đến chủ thẻ và thẻ đều được mã hoá trong băng từ.
Đây là loại thẻ hiện nay được sử dụng phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, nó cũng đã dần bộc lộ nhược điểm, đó là số lượng các thông tin được mã hoá không nhiều và mang tính cố định nên không thể áp dụng kỹ thuật an toàn và có thể bị ăn cắp thông tin bằng các thiết bị nối với máy vi tính. - Thẻ thông minh (Smart card): là giai đoạn phát triển hiện tại của thẻ ngân hàng, thể hiện những ứng dụng hiện đại nhất của công nghệ thông tin vào 5 lĩnh vực thẻ, đó là việc sử dụng chíp điện tử. Thông thường, một tấm thẻ thông minh được gắn chíp điện tử để thay thế cho dải băng từ sau thẻ.
Theo tính chất thanh toán Nếu xét theo tính chất thanh toán, trước đây thẻ ngân hàng được chia làm hai loại là: thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ, nhưng hiện nay có thêm thẻ trả trước, như sau: • Thẻ tín dụng (Credit Card) Thẻ tín dụng cho phép người sử dụng khả năng chi tiêu trước trả tiền sau. Ngân hàng và các tổ chức tài chính phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng dựa trên uy tín và khả năng đảm bảo chi trả của từng khách hàng. Thẻ tín dụng là công cụ thanh toán hiện đại, văn minh và có tính thông dụng trên toàn thế giới. Không chỉ thanh toán trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia mà thẻ tín dụng quốc tế có thể được chấp nhận thanh toán ở các đơn vị có biểu tượng của thẻ đó trên khắp thế giới.
• Thẻ ghi nợ (Debit Card) Giống như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ cũng là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, nó cho phép khách hàng tiếp cận với số dư tài khoản của mình qua hệ thống kết nối trực tuyến để thanh toán hàng hoá dịch vụ tại các ĐVCNT hoặc thực hiện các giao dịch liên quan tới tài khoản tại các máy ATM. Mức chi tiêu của chủ thẻ phụ thuộc chủ yếu vào số dư trong tài khoản, ngân hàng giữ vai trò cung cấp dịch vụ và thu phí dịch vụ. • Thẻ trả trước Tương tự như thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng, thẻ trả trước cho phép thanh toán mà không cần tiền mặt hay séc. Thẻ trả trước không kết nối với tài khoản ngân hàng như thẻ ghi nợ, thẻ trả trước không có giá trị nào cho đến khi cho tiền vào thẻ.
Theo tình trạng hoạt động Thẻ hoạt động: là những thẻ được phát hành trên những tài khoản hoạt động (active), thường xuyên có phát sinh giao dịch sau khi mở tài khoản. 6 Thẻ không hoạt động: là những thẻ được phát hành trên những tài khoản không hoạt động (non active), là tài khoản không có phát sinh giao dịch trong một thời gian dài sau khi mở tài khoản. Theo phạm vi sử dụng thẻ Thẻ thanh toán trong nước là thẻ thanh toán do các NH, tổ chức tín dụng phát hành để thanh toán hàng hoá dịch vụ và rút tiền mặt trong phạm vi quốc gia. Thẻ thanh toán quốc tế là thẻ mang thương hiệu của các tổ chức thẻ quốc tế do các ngân hàng, tổ chức tín dụng làm đại lý phát hành.
Thẻ quốc tế có thể được sử dụng trên phạm vi trong nước và quốc tế, tại bất kỳ các ĐVCNT hoặc máy ATM có mang biểu tượng chấp nhận thanh toán thẻ đó. Các chủ thể tham gia phát hành và thanh toán thẻ ngân hàng Thẻ thanh toán của NH ra đời là nhu cầu tất yếu trong mối quan hệ gắn bó giữa người mua hàng, các đơn vị cung ứng hàng hoá, dịch vụ và các tổ chức tài chính nhằm mở rộng thị trường trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Khi NH và các tổ chức tài chính tín dụng trở thành thành viên chính thức hoặc đại lý cho các công ty thẻ thì toàn bộ hệ thống phát hành và thanh toán trở nên đồng bộ. Như vậy, trong một giao dịch thanh toán thông thường có 5 bên tham gia: NHPH, Ngân hàng thanh toán, Chủ thẻ, Đơn vị chấp nhận thẻ và Tổ chức thẻ quốc tế.
[Nguyễn Thanh Phong,2010] Ngân hàng phát hành (Bank Issuer) Ngân hàng phát hành (NHPH) là NH được tổ chức thẻ quốc tế hoặc công ty thẻ trao quyền phát hành thẻ mang thương hiệu của những tổ chức và công ty này. NHPH được quyền in tên NH mình trên thẻ thể hiện đó là sản phẩm của mình. Chủ thẻ (Cardholder) Chủ thẻ là những cá nhân hoặc người được uỷ quyền (nếu là thẻ do công ty uỷ quyền sử dụng), có tên in nổi trên thẻ và sử dụng thẻ theo những điều khoản, điều kiện do NHPH quy định. Chủ thẻ sử dụng thẻ để thanh toán hàng hoá, dịch vụ tại các đơn vị cung ứng hàng hoá, dịch vụ có chấp nhận thẻ, rút tiền mặt.
7 Ngân hàng thanh toán (Acquirer) Ngân hàng thanh toán là NH chấp nhận thẻ như một phương tiện thanh toán thông qua việc ký hợp đồng chấp nhận thẻ với các đơn vị cung ứng hàng hoá, dịch vụ. NH sẽ cung cấp các thiết bị phục vụ cho việc thanh toán thẻ và hướng dẫn cách thức vận hành cũng như cách thức quản lý, xử lý những giao dịch thanh toán tại các đơn vị này. Đơn vị chấp nhận thẻ (Merchant) Là các đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ ký hợp đồng với ngân hàng về việc chấp nhận thẻ thanh toán như một phương tiện thanh toán. Các đơn vị chấp nhận thẻ thường là sân bay, siêu thị, khách sạn… Tổ chức thẻ quốc tế Tổ chức thẻ quốc tế là đơn vị đứng đầu, quản lý mọi hoạt động phát hành và thanh toán của thẻ ngân hàng.
Đây là hiệp hội các tổ chức tài chính, tín dụng lớn có mạng lưới hoạt động rộng khắp. Nó tồn tại dưới các hình thức hiệp hội (Card Association) như Visa và MasterCard hay công ty độc lập (Independent Companies) như American Express, Diner Club.1: Một số biểu tượng của các tổ chức thẻ quốc tế Nguồn: Tác giả tự sưu tầm Tổ chức thẻ quốc tế đứng ra liên kết với các thành viên, đặt ra các qui định bắt buộc các thành viên phải áp dụng và tuân theo thống nhất thành một hệ thống toàn cầu. Bất cứ ngân hàng nào hiện nay hoạt động trong lĩnh vực thanh toán thẻ quốc tế đều phải gia nhập vào một tổ chức thẻ quốc tế nào đó. Như vậy, mỗi chủ thể tham gia hoạt động của thẻ thanh toán đều có vai trò nhất định và không thể thiếu trong việc phát huy tối đa tính năng phương tiện thanh toán hiện đại không dùng tiền mặt của ngân hàng.
Vai trò của thẻ thanh toán Trải qua vài thập kỷ hình thành và phát triển, phương thức thanh toán bằng thẻ ngân hàng đã và đang chứng tỏ tính ưu việt của mình so với các phương thức tồn tại trước đó. Các tiện ích mà nó đem lại cho nền kinh tế cũng như các chủ thể tham gia hoạt động thanh toán thẻ là một yếu tố quan trọng quyết định đến sự phát triển của loại hình thanh toán này trên toàn thế giới.