phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh dịch vụ thẻ của Ngân hàng thƣơng mại - Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Kỹ thƣơng Việt Nam - Chƣơng 3: Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Kỹ thƣơng Việt Nam 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH DỊCH VỤ THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ THẺ THANH TOÁN VÀ DỊCH VỤ THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Thẻ thanh toán của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về thẻ Ngân hàng: Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi đề cập về khái niệm thẻ, đặc biệt là thẻ thanh toán.
Trong đó, có 3 quan điểm nổi bật nhất là: - Quan điểm thứ nhất: thẻ thanh toán là một trong những công cụ đƣợc sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa và dịch vụ thay thế cho tiền mặt hoặc có thể đƣợc dùng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý hoặc các máy ATM. - Quan điểm thứ hai cho rằng thẻ là giao dịch tài chính đƣợc phát hành bởi ngân hàng và các tổ chức tài chính. - Quan điểm thứ ba lại cho rằng thẻ thanh toán là một phƣơng thức ghi sổ số tiền cần để thanh toán thông qua các máy móc thiết bị chuyên dùng đƣợc lắp đặt tại các địa điểm chấp nhận thanh toán thẻ. Theo “Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng” do Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam ban hành ngày 19/10/1999 thì thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ.
Tất cả các loại thẻ thanh toán lƣu hành trên thị trƣờng đều làm bawfngg nhựa, cấu tạo 3 hớp, có hình dạng nhƣ một tấm thẻ điện thoại và có cùng kích cỡ nhƣ sau: dài x rộng x dày: 80,5598mm x 50,3975mm x 0,4572mm. Mặt trƣớc của thẻ có những thông tin cơ bản sau: nhàn hiệu thƣơng mại của thẻ, tên và logo của ngân hàng phát hành thẻ, số thẻ và tên chủ thẻ đƣợc in nổi. Mặt sau của thẻ gồm: dài bẳng từ, chữ ký chủ thẻ, một số thông tin tham chiếu (số điện thoại của ngân hàng phát hành thẻ để liên lạc, số kiểm tra để tăng thêm sự an toàn của thẻ, tránh các trƣờng hợp làm giả). Ngoài ra thẻ còn có thêm một số yếu tố khác tùy theo quy 5 định của Tổ chức thẻ quốc tế hoặc các hiệp hội phát hành thẻ.
Lịch sử hình thành và phát triển Theo tài liệu của tổ chức thẻ VISA quốc tế, thế giới ghi nhận vào năm 1914 Western Union – công ty điện báo hàng đầu của Mỹ đã phát hành 8 thẻ cho khách hàng của mình để thực hiện những giao dịch đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của thẻ thanh toán. Tiếp đó, vào năm 1924, công ty General Petrolium Corporation tại California đã phát hành thẻ xăng dầu đầu tiên cho những công nhân của mình và những khách hàng chọn lọc. Tiếp theo đó vào khoảng từ thập niên 50 của thế kỷ 20, các loại hình thẻ thanh toán đƣợc phát triển nhanh, đặc biệt là những sản phẩm “thẻ giải trí và du lịch” sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau. Tới năm 1951, dựa trên cơ sở hình thành hệ thống tin dụng của ông John Biggins, ngân hàng đầu tiên tham gia vào việc phát hành thẻ tín dụng là Franklin National ở Long Island, Newyork.
Năm 1958, công ty American Express bắt đầu phát hành thẻ ở Mỹ và nƣớc ngoài, công ty này nhanh chóng đứng đầu trong lĩnh vực thẻ thanh toán phcuj vụ cho giải trí và du lịch. Năm 1960, một ngân hàng của Mỹ là Bank of American đã phát hành thẻ Bank AmeriCard. Kể từ đó, thẻ ngân hàng đƣợc coi nhƣ một dịch vụ mang tính cạnh tranh cao, đƣợc phát triển và mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng trên toàn thế giới. Ngày nay, hai loại thẻ thanh toán Visa và MasterCard là hai loại thẻ đƣợc sử dụng phổ biến nhất, chiếm lĩnh hoàn toàn thị trƣờng thẻ liên ngân hàng trên thế giới ở cả số lƣợng thẻ phát hành và doanh số thanh toán thẻ.
Dịch vụ thẻ thanh toán đã thực sự trở thành một phần của guồng máy kinh tế hế giới. Với các tiện ích của mình, chắc chắn dịch vụ thẻ thanh toán sẽ gặt hái đƣợc nhiều thành công trong thế kỷ XXI – thế kỷ của công nghệ thông tin. Phân loại thẻ: Thị trƣờng thẻ thế giới hiện nay đnag lƣu hành rất nhiều loại thẻ.Theo từng tiêu thức khác nhau thẻ đƣợc chia thành nhiều loại.Tuy nhiên việc phân loại chỉ mang tính tƣơng đối, chủ yếu để thuận tiện cho công tác phân tích. Có thể phân loại thẻ dựa trên một số tiêu thức sau: 6 Theo đặc tính kỹ thuật: - Thẻ khắc chữ nổi (Embossed Card): là loại thẻ mà trên bề mặt của thẻ đƣợc khắc chữ nổi toàn bộ các thông tin cần thiết về chủ thẻ cũng nhƣ tài khoản.
Ngày nay, loại thẻ này không còn đƣợc sử dụng vì tính chất thô sơ, dễ bị làm giả. - Thẻ băng từ (Magnatich Card): là loại thẻ đƣợc sản xuất dựa trên kỹ thuật từ tính, những thông tin của thẻ và chủ thẻ đƣợc mã hóa trên bề mặt băng từ ở mặt sau của thẻ. Hiện nay loại thẻ này dang đƣợc sử dụng phổ biển. - Thẻ thông minh (Smart Card): là loại thẻ đƣợc sản xuất dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, trên thẻ có gắn một con chip điện tử có cấu trúc nhƣ một máy tính hoàn hảo.
Vì vậy thẻ thông minh còn đƣợc gọi là thẻ Chíp. Đây là thế hệ thẻ mới nhất, tân tiến nhất hiện nay với độ an toàn, bảo mật cao. Theo tính chất thanh toán: - Thẻ ghi nợ (Debit Card) – thẻ loại A: là loại thẻ mà chủ thẻ đƣợc chi tiêu trong phạm vi số dƣ TKTG thanh toán của mình tại NHPH thẻ. Để sử dụng thẻ này, chủ thẻ phải có 1 TKTG tại ngân hàng.
Khi rút tiền tại máy ATM hay thanh toán tại các ĐVCNT, giá trị của những giao dịch này lập tức đƣợc trừ vào số dƣ TKTG của chủ thẻ. Do đó, chủ thẻ không phải mở tài khoản đảm bảo thanh toán thẻ mà sử dụng dựa trên số dƣ TKTG hoặc hạn mức thấu chi mà ngân hàng cho phép. + Thẻ online: là loại thẻ ghi nợ mà giá trị những giao dịch ngay lập tức đƣợc khấu trừ vào TKTG của chủ thẻ. + Thẻ offline: là loại thẻ ghi nợ mà giá trị của những giao dịch sau nhiều ngày mới đƣợc khấu trừ vào TKTG của chủ thẻ.
- Thẻ trả trước (Prepaid card) – thẻ loại B: là loại thẻ mới đƣợc phát triển trên thế giới, khách hàng không đƣợc làm các thủ tục phát hành thẻ nhƣ: làm giấy yêu cầu phát hành thẻ, mở tài khoản hoặc chứng minh tài chính, mà chỉ cần trả cho ngân hàng một số tiền sẽ đƣợc ngân hàng cấp cho một tấm thẻ với mệnh giá tƣơng đƣơng. Đặc tính của loại thẻ này giống nhƣ mọi thẻ bình thƣởng khác, tuy nhiên thẻ chỉ đƣợc chi tiêu trong giới hạn số tiền có trong thẻ và một khoảng thời gian nhất 7 định thùy theo ngân hàng phát hành, tức là hạn mức của loại thẻ này không có tính tuần hoàn. - Thẻ tín dụng (Credit Card) – thẻ loại C: Đây là loại thẻ đƣợc sử dụng phổ biến nhất hiện nay. Khi sử dụng thẻ này, chủ thẻ đƣợc cấp một hạn mức tín dụng nhất định để chi tiêu tại những ĐVCNT.
Hạn mức tín dụng do ngân hàng đƣa ra căn cứ vào uy tín và khả năng đảm bảo chi trả của khách hàng. Khả năng đảm bảo đƣợc xác định dựa trên tình hình thu nhập, tình hình chi tiêu, tài khoản đảm bảo, địa vị xã hội… của khách hàng. Đây là một phƣơng thức thanh toán không dung tiền mặt giúp cho ngƣời sử dụng có thể chi tiêu trƣớc, trả tiền sau. Định kỳ, chủ thẻ sẽ nhận đƣợc sao kê từ ngân hàng.
Chủ thẻ phải thanh toán số tiền đã chi tiêu mà không phải trả lãi. Tuy nhiên nếu thanh toán không đúng hạn, chủ thẻ sẽ phải chịu phí và lãi suất chậm trả và các loại phí khác. Sau khi thanh toán đủ số tiền phải trả, ngân hàng sẽ khôi phục HMTD cho chủ thẻ. Điều này tạo nên tính tuần hoàn, là đặc tính ƣu việt của thẻ tín dụng.
Theo phạm vi lãnh thổ: - Thẻ nội địa: là thẻ đƣợc giới hạn sử dụng trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia, do đó đồng tiền giao dịch phải là đồng bản tệ của quốc gia đó. Hoạt động của thẻ này khá đơn giản, chỉ do một ngân hàng hoặc một đơn vị, tổ chức phát hành, xử lý các phát sinh trung gian và thực hiện thanh toán. Thẻ có nhƣợc điểm là không thanh toán đƣợc các giao dịch mua bán ở nƣớc ngoài nên không khuyến khích chủ thẻ là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, công ty nƣớc ngoài tại nƣớc bản địa, du lịch, du học… - Thẻ quốc tế: Thẻ này sử dụng các ngoại tệ mạnh để thanh toán nhƣ: Đồng đô la Mỹ (USD), đồng bảng Anh (GBP), đồng Euro (EUR), đồng Yên (JPY)… nên đƣợc chấp nhận thanh toán trên phạm vi toàn cầu. Loại thẻ này đƣợc hỗ trợ quản lý, trung gian thanh toán bởi hệ thống mạng lƣới các tổ chức tài chính lớn nhƣ Master Card, Visa…hoạt động một cách thống nhất và đồng bộ.
Trong thời đại ngày nay, thẻ quốc tế đƣợc sử dụng rất rộng rãi và phổ biến vì tính ƣu điểm và thuận tiện, an toàn của nó. Dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về dịch vụ thẻ: Dịch vụ thẻ của NHTM là một trong những dịch vụ cơ bản của NHTM cung cấp tới khách hàng để đáp ứng nhu cầu về thanh toán và chi tiêu. Dịch vụ thẻ là kết quả của sự phát triển khoa học và công nghệ (đặc biệt là điện tử, tin học viễn thông) với quá trình tự do hóa và toàn cầu hóa của các hoạt đọng dịch vụ tài chính – ngân hàng và đặc biệt là sự phát triển mạng lƣới toàn cầu của các ngân hàng và sự liên kết giữa các ngân hàng thành một khối thống nhất trên cơ sở một trung tâm thanh toán bù trừ.
Hoạt động dịch vụ thẻ mang lại nhiều tiện ích không chỉ đối với nền kinh tế và hệ thống ngân hàng mà còn với những chủ sử dụng thẻ.