CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI NIỆM VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Khái niệm cạnh tranh Trong lịch sử phát triển của các hình thái kinh tế xã hội, cạnh tranh là một hiện tượng gắn liền với kinh tế thị trường. Khái niệm về cạnh tranh đã xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển sản xuất, trao đổi hàng hóa và phát triển kinh tế thị trường… Từ thế kỷ XX đến nay, lý thuyết về cạnh tranh hiện đại đã được nhiều nhà kinh tế học nghiên cứu và đưa ra các nhận định: Theo Karl Mark, cạnh tranh được hiểu là “sự đấu tranh, ganh đua, thi đua giữa các đối tượng cùng phẩm chất, cùng loại, đồng giá trị nhằm đạt được những ưu thế, lợi ích, mục tiêu xác định”.
[1] Theo từ điển kinh doanh (1992) ở Anh, cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là “Sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành cùng một loại tài nguyên sản xuất, hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”. Nhà kinh tế học Micheal Porter thì đưa ra lý thuyết về “Lợi thế cạnh tranh”, theo đó cạnh tranh có thể hiểu là “đấu tranh để giành lấy thị trường tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ bằng những biện pháp ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, kinh tế, chính trị… để tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra nhiều sản phẩm mới với năng suất và chất lượng cao nhất”. Tựu chung lại theo các quan điểm này, cạnh tranh được hiểu là các mối quan hệ kinh tế mà trong đó các chủ thể ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mỗi chủ thể buộc phải chấp nhận cạnh tranh, ganh đua với nhau, phải không ngừng tiến 8 bộ để giành được ưu thế so với các đối thủ.
Từ đó có thể thấy, cạnh tranh cũng chính là môi trường tạo động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh, phát triển và tăng năng suất lao động, hiệu quả của các tổ chức đồng thời cũng là nhân tố quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội. [3], [15] Xét theo hướng tiếp cận này, có thể hiểu một cách chung nhất, cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp (kể cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn kinh doanh) để đạt mục tiêu kinh tế chủ yếu của mình như chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như đảm bảo tiêu thụ có lợi nhất nhằm nâng cao vị thế của mình… hướng tới mục đích cuối cùng là tối đa hóa lợi ích. Năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đến nay cũng có rất nhiều cách tiếp cận và quan điểm khác nhau như: Theo Micheal Porter thì năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh hay nói một cách khác năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động.
Theo đó, doanh nghiệp cần sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả để phát triển bền vững. Theo Ủy ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế (CIEM), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp. Theo diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), trong “Báo cáo về năng lực cạnh tranh toàn cầu” thì năng lực cạnh tranh được hiểu là “khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời đạt được những mục 9 tiêu của doanh nghiệp đặt ra”. Theo tác giả Ngô Kim Thanh thì “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn”.
[15] Như vậy, tổng hợp các quan điểm có thể thấy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp duy trì và mở rộng thị phần, đạt được mức lợi nhuận cao hơn trung bình của ngành và liên tục tăng, đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động của môi trường kinh doanh. Các cấp độ cạnh tranh Năng lực cạnh tranh có thể chia thành nhiều cấp độ cạnh tranh khác nhau. Hệ thống lý thuyết phổ biến được các quốc gia và các thiết chế kinh tế quốc tế sử dụng nhiều nhất hiện là phương pháp đánh giá do Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) thiết lập trong bản Báo cáo cạnh tranh toàn cầu. Theo đó năng lực cạnh tranh được chia làm 3 cấp độ cơ bản: - Năng lực cạnh tranh quốc gia: có thể hiểu là lợi thế cạnh tranh quốc gia, là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân.
- Năng lực cạnh tranh cấp độ ngành/doanh nghiệp: là khả năng bù đắp chi phí, duy trì lợi nhuận và được đo bằng thị phần của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp: Lợi nhuận, thị phần của doanh nghiệp… - Năng lực cạnh tranh cấp độ sản phẩm và dịch vụ: được đo bằng thị phần của sản phẩm và dịch vụ cụ thể trên thị trường. Khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ phụ thuộc vào lợi thế cạnh tranh của nó thể hiện ở chất lượng, tính độc đáo của sản phẩm dịch vụ, công nghệ sản phẩm… 10 1. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm 2 nhóm chỉ tiêu chính: - Các chỉ tiêu năng lực tài chính: bao gồm quy mô vốn, khả năng sinh lời, mức độ rủi ro của doanh nghiệp… - Các chỉ tiêu năng lực phi tài chính: năng lực sản phẩm dịch vụ, công nghệ, nhân lực, trình độ quản lý của doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp… Các chỉ tiêu về năng lực tài chính giúp đánh giá được sức mạnh nội tại của doanh nghiệp, thể hiện tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay xấu, có khả năng tồn tại và phát triển hay không.
Các chỉ tiêu năng lực phi tài chính giúp đánh giá được lợi thế của doanh nghiệp đối với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Tuy vậy, những khả năng trên bị tác động rất lớn bởi các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Do đó, khi phân tích năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp thì không thể bỏ qua các yếu tố tác động. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Khái niệm năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Theo định nghĩa tại Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, ngân hàng thương mại (NHTM) là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. [14] Như vậy, NHTM là doanh nghiệp, nhưng hoạt động của ngân hàng là một loại hình kinh doanh đặc biệt, đó là kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ tài chính có liên quan. Dựa trên sự phân chia cấp độ về năng lực cạnh tranh của WEF thì năng lực cạnh tranh của ngân hàng được xét trên cấp độ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh khi nó có khả năng chiếm lĩnh thị trường, thu hút được nhiều khách hàng đến với mình 11 bằng việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ chất lượng tốt, tạo được sự hài lòng cho khách hàng, tạo được uy tín, danh tiếng trên thị trường đồng thời thu được lợi nhuận đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện kinh doanh nhiều biến động.
Với cách tiếp cận này, năng lực cạnh tranh của NHTM được hiểu như sau: “Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tận dụng được các nguồn lực một cách hiệu quả để duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn, bền vững, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh”. Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Năng lực canh tranh của ngân hàng cũng như các doanh nghiệp khác là khả năng tận dụng được các nguồn lực một cách hiệu quả, theo đó các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của ngân hàng thường xuất phát từ nội lực của ngân hàng đó, thể hiện ở bốn yếu tố chính: Thứ nhất, nguồn lực của ngân hàng bao gồm nguồn lực về tài chính, nguồn nhân lực và trình độ khoa học công nghệ… Các yếu tố về nguồn lực tài chính của ngân hàng là yếu tố cốt lõi cấu thành lên năng lực cạnh tranh của ngân hàng thể hiện qua nhiều tiêu chí như: Vốn, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời của vốn đầu tư, mức độ rủi ro của nguồn vốn… Yếu tố về nguồn nhân lực cũng là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành lên năng lực cạnh tranh của ngân hàng khi đây là bộ phận trực tiếp đem lại cho khách hàng cảm nhận về ngân hàng và sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, đồng thời tạo niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng. Yếu tố này thường được xem xét trên cả hai khía cạnh cả về số lượng và chất lượng lao động. Yếu tố về năng lực công nghệ đã đang và sẽ là một trong những yếu tố 12 quan trọng bậc nhất cấu thành nên năng lực cạnh tranh của ngân hàng đặc biệt trong thời đại cách mạng công nghệ 4.