Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỂ Cơ BẢN VỂ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG TRONG NỂN KINH TẾ THỊ TRUỜNG 1. TÍN DỤNG VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG TRONG NEN k i n h t ê THỊ TRƯỜNG. Khái niệm về tín dụng. Tín dụng là một phạm trù lịch sử, xuất hiện từ cuối thời kỳ xã hội cộng sản nguyên thuỷ, được duy trì và phát triển ở xã hội chiếm hữu nô lệ và xã hội phong kiến.
Song nó chỉ được phát triển mạnh mẽ, trở thành một yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy xã hội loài người đi tới văn minh, thịnh vượng trong nền kinh tế thị trường dựa trên nền sản xuất lớn hiện đại. Vậy, tín dụng là gì? Danh từ tín dụng xuất phát từ gốc Latinh: Creditum, có nghĩa là một sự tin tưởng tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin. Theo nghĩa hiểu tiếng Việt, tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau trên cơ sở có hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định. Theo quan điểm của K.Marx: “Tín dụng là một quá trình chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu đến người sử dụng sau một thời gian nhất định thu hồi một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu”.[9] Nhà kinh tế Pháp, ông Louis Baudin đã định nghĩa tín dụng như là “một sự trao đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hoá tương lai”.
Trong quan hệ tài chính, tín dụng có thể hiểu theo các nghĩa sau: - Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm tì tín dụng được coi là phương pháp chuyển 4 dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay. - Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. - Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng. Cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá, ngày nay tín dụng còn được dùng để chỉ một số hành vi kinh tế rất phức tạp như: bán chịu hàng hoá, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, ký thác.
Trong mỗi hành vi tín dụng như trên, hai bên cam kết với nhau như sau: - Một bên trao ngay một số tài hóa hay tiền bạc. - Còn bên kia cam kết sẽ hoàn lại những đối khoản của một số tài hoá hay tiền bạc trong một thời gian nhất định và theo một số điều kiện nào đó. Quá trình thực hiện tín dụng thực chất không chỉ chứa đựng hai quá trình riêng biệt cho vay và hoàn trả mà còn bao gồm cả quá trình sử dụng tiền vay được thực hiện trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh hàng hoá. Như vậy, một quá trình tín dụng khép kín có thể chia làm 3 giai đoạn: - Giai đoạn phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay; - Giai đoạn sử dụng vốn tín dụng trong quá trình sản xuất; - Và giai đoạn hoàn trả của tín dụng.
Từ những phân tích trên luận văn rút ra: Thực chất tín dụng là một quan hệ kinh tê giữa người cho vay và người đi vay, giữa họ có mối quan hệ với nhau thông qua sự vận động của giá trị. Vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiên tệ và hàng hoá từ người cho vay chuyển sang người đi vay và sau một thời gian nhất định quay vê với người cho vay với lượng giá trị lớn hơn ban đầu. Tín dụng được cấu thành từ sự kết hợp của 3 yếu tố chính là: Lòng tin; thời hạn của quan hệ tín dụng; sự hứa hẹn hoàn trả. Đây cũng chính là 3 đặc trưng chủ yếu của tín dụng.
Những hành vi tín dụng có thể do bất cứ ai, chẳng hạn hai nguời có thể 5 cho nhau vay tiền. Tuy nhiên, cùng với thời gian, hoạt động tín dụng chuyên nghiệp đã xuất hiện và ngày nay, khi nói tói tín dụng, người ta thường nghĩ ngay tới các tổ chức tín dụng mà đại diện tiêu biểu là ngân hàng, cơ quan chuyên cho vay, bảo lãnh, chiết khấu và cả phát hành giấy bạc. Từ đây trở đi, luận văn sử dụng từ ngân hàng thay thê cho từ tô chức tín dụng. Chức năng của tín dụng.
Tổ chức chuyên hoạt động tín dụng (ngân hàng) với chức năng là một trung gian tài chính trong nền kinh tế, thực hiện các chức năng của mình để thông qua đó tiến hành các hoạt động nhằm tối đa hoá sự thoả mãn nhu cầu của các đối tượng khách hàng trong nền kinh tế, đồng thời thu lợi nhuận cao nhất có thể. Thông qua hoạt động tín dụng, NH sẽ thực hiện các chức năng sau: Một là, phân phối lại tài nguyên: Tín dụng NH là sự vận động của vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác, tức là từ các tổ chức, cá nhân có vốn tạm thời chưa sử dụng sang các DN, cá nhân thiếu vốn nhằm bổ sung vốn cho sản xuất và tiêu dùng. Nhờ sự vận động của túi dụng, các chủ thể vay vốn nhận được tài nguyên của xã hội phục vụ cho nhu cầu sản xuất-kinh doanh, tiêu dùng của họ. Sự phân phối tín dựng được thực hiện bằng hai cách: phân phối trực tiếp và phân phối gián tiếp thông qua các tổ chức trung gian.
Trong nền kinh tê thị trường, phân phối tín dụng qua NH có vị trí quan trọng nhất. Hai là, điều tiết sự di chuyển của vốn đầu tư dẫn đến bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận, thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển: Điều đó xuất phát từ mục đích trong hoạt động tín dụng của NH: để thu hút được lợi nhuận cao và bảo đảm an toàn vốn, NH hạn chế cho vay đối với những ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp, kém phát triển, tập trung cho vay những ngành có lợi nhuận cao. Do đó, việc di chuyển vốn diễn ra dễ dàng, tập trung và duy trì lợi nhuận ở mức bình quân đối với tất cả các ngành. 6 Ba là, sử dụng những phương tiện trao đổi tiện lợi: Tuy chúng không loại trừ được vàng, bạc, nhưng làm giảm số lượng vàng bạc cần thiết trong trao đổi và làm giảm nhiều loại chi phí khác, như quan điểm của K.Marx: Tiền đã được thay thế một phần rất lớn, một mặt bằng nghiệp vụ tín dụng và mặt khác bằng tiền tín dụng.
Bốn là, làm cho lượng tiền nhàn rỗi trong nền kinh tê giảm xuông mức tối thiểu cần thiết và hiệu quả vốn được nâng cao, tạo điêu kiện thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Vai trò của tín dụng trong nền kinh tê thị trường. Đối với nền kinh tế: Tín dụng có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế. Nó thúc đẩy sản xuất và lưu thông phát triển, góp phần đẩy nhanh quá trinh tái sản xuất mở rộng.
Nó là công cụ điều hoà lưu thông tiền tệ và thông qua đó điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Tín dụng là công cụ thúc đẩy hạch toán kinh doanh của các DN. Nó là đòn bẩy quan trọng nhất để DN sử dụng vốn có hiệu quả nhất. Đây là một trong những nguồn bổ sung vốn quan trọng cho các DN, tổ chức kinh tế, đáp ứng kịp thời các nhu cầu vượt quá vốn tự có.
Nhà nước sử dụng vốn tín dụng như một công cụ quan trọng để thúc đẩy sản xuất phát triển, kiểm soát kinh tế, thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, củng cố hạch toán kinh tế của các DN, tổ chức kinh tế. Tín dụng là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy quá trình hình thành và mở rộng các quan hệ giao lưu kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh xuất, nhập khẩu hàng hoá. Đối với sự tồn tại và phát triển của tổ chức tín dụng (NH). Hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh cơ bản, thường xuyên nhất, mang lại phần lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng (thường trên 70%).
Do đó, 7 hoạt động tín dụng có hiệu quả có vai trò hết sức quan trọng, bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của tổ chức tín dụng. Thông qua hoạt động tín dụng, NH có thể điều hoà vốn, hạn chế rủi ro về vốn, rủi ro thanh khoản. Hoạt động tín dụng cũng giúp NH mở rộng và củng cố mối quan hệ với khách hàng, tìm thêm khách hàng mới, mở rộng thêm các loại hình kinh doanh, dịch vụ khác như bảo lãnh, thanh toán, chuyển tiền, giữ hộ. Ngoài ra, trình độ quản lý, khả năng của cán bộ, nhân viên, vị thế, uy tín của NH được nâng cao, tăng cường.
HIỆU QUẢ TÍN DỤNG. Trong Từ điển Tiếng Việt, có ghi: Hiệu quả là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại. Đây là quan niệm chung nhất về hiệu quả và cũng là rộng nhất về hiệu quả nên rất khó xác định được đầy đủ theo hai giác độ định tính và định lượng. Vậy, hiệu quả tín dụng đối với NHTM được hiểu thế nào? Bất kỳ một hoạt động nào cũng đòi hỏi chi phí và thường đạt được một số kết quả nhất định.
Mối quan hệ giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra được gọi là hiệu quả. Như vậy, hiệu quả có nội dung rất rộng và được xem xét dưới nhiều góc độ khác; góc độ kinh tế, góc độ xã hội hoặc vừa kinh tế vừa xã hội. Xét về kinh tế: Hiệu quả kinh tế là hiệu quả được xem xét trên khía cạnh kinh tế của vấn đề, phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được lợi ích đó. Biểu hiện của lợi ích và chi phí kinh tế phụ thuộc vào chủ thể và mục tiêu mà chủ thể đặt ra.
Hoạt động tín dụng của NHTM là một quá trình xem xét tín dụng theo những hợp đồng tín dụng khả thi. Hiệu quả tín dụng đối với NHTM là hoạt động đầu tư vốn của các NHTM. Cũng như bao hoạt động khác, hoạt động tín dụng của các NHTM cũng cần vươn tới tính hiệu qủa. Vậy, hiệu quả tín dụng đối với NHTM? 8 Xuất phát từ vai trò, cơ chế hoạt động tín dụng của NHTM liên quan đến việc thông qua đánh giá hiệu quả bằng hộ thống chỉ tiêu (định tính, định lượng) về hoạt động tín dụng của NHTM, vì vậy cần nhất quán: Thứ nhất, hiệu quả tín dụng của NHTM cao hay thấp thể hiện ở chỗ đầu tư vốn đã làm gì để góp phần thực hiện các chỉ tiêu kinh tế, xã hội thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển.