Đặt vấn đề Đất nước ta đang trong giai đoạn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tốc độ đô thị hóa ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch.Cùng với sự phát triển chung của đất nước, các vùng nông thôn Việt Nam cũng đã có nhiều đổi mới và khởi sắc: kinh tế phát triển, hệ thống đường giao thông liên thôn liên xã thuận lợi, đời sống người dân ngày càng được nâng cao… Sự phát triển mạnh mẽ này cũng kéo theo những vấn đề nảy sinh, đặc biệt là vấn đề môi trường trong đó có sự phát sinh một lượng lớn rác thải sinh hoạt. Rác thải sinh hoạt hiện đang là vấn đề bức xúc, tình trạng vứt xả rác bừa bãi đã và đang diễn ra ở khắp nơi, ở trên đường, ao hồ, sông ngòi, mương máng lượng rác thải này tập trung nhiều gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, gây ách tắc dòng chảy, làm ô nhiễm nguồn nước mặt tại các vị trí có chứa rác ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt hàng ngày của người dân. Thực tế việc quản lý và xử lý rác thải mặc dù đã có nhiều tiến bộ, cố gắng nhưng chưa ngang tầm với nhu cầu đòi hỏi. Hiện nay, ở khu vực đô thị mới chỉ thu gom đưa đến bãi chôn lấp tập trung đạt khoảng 60-65%, còn lại rác thải xuống ao hồ, sông ngòi, bên đường.
Còn ở khu vực nông thôn, rác thải hầu như không được thu gom, những điểm vứt rác tràn ngập khắp nơi. Ở khu vực khám chữa bệnh, mặc dù đã có nhiều bệnh viện đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc cải thiện điều kiện môi trường theo hướng xanh, sạch, đẹp cùng với những thiết bị hiện đại để phục vụ tốt cho việc khám chữa bệnh của nhân dân, song vẫn còn những bất cập trong việc thu gom và tiêu huỷ rác thải, nhất là chất thải có các thành phần nguy hại. Đây cũng chính là nguy cơ tiềm ẩn đối với môi trường và con người. Huyện Kinh Môn là khu vực có tốc độ phát triển kinh tế nhanh của tỉnh Hải Dương.
Tuy nhiên hiện nay tình trạng rác nói chung và rác sinh hoạt nói riêng tại đây chưa được đánh giá và quản lý một cách đầy đủ và chặt chẽ, việc thu gom còn gặp nhiều khó khăn, chưa có biện pháp xử lý phù hợp dẫn đến công tác bảo vệ môi 2 trường chưa đạt hiệu quả. Vì vậy việc đánh giá hiện trạng thu gom, quản lý rác thải sinh hoạt là vấn đề cấp thiết cần phải quan tâm lúc này. Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm, cùng với sự giúp đỡ của phòng Tài Nguyên & Môi trường huyện Kinh Môn - Tỉnh Hải Dương, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.Nguyễn Ngọc Nông, em tiến hành thực hiện đề tài : "Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả thu gom, quản lý rác thải sinh hoạt tại huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương". Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1.
Mục tiêu chung Hiện trạng công tác thu gom, quản lý rác thải sinh hoạt tại huyện Kinh Môn - tỉnh Hải Dương để làm cơ sở khoa học giúp đưa ra các biện pháp phù hợp với điều kiện của địa phương, hướng dẫn cộng đồng dân cư thu gom, phân loại rác cho phù hợp và vứt rác đúng nơi quy định. Khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Kinh Môn - Hiện trạng thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Kinh Môn - Tỉnh Hải Dương - Hiện trạng quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Kinh Môn - Tỉnh Hải Dương - Tìm hiểu nhận thức và ý nghĩa của người dân trong việc thu gom, quản lý rác thải sinh hoạt. - Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu gom, quản lý rác thải sinh hoạt.
Yêu cầu của đề tài - Số liệu thu thập phải trung thực, chính xác, khách quan - Tìm ra những thuận lợi, khó khăn trong công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt - Các giải pháp kiến nghị đưa ra phải có hiệu quả và phù hợp với thực tế ở địa phương 3 1. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp sinh viên nâng cao kiến thức, kĩ năng và rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. - Vận dụng và phát huy được kiến thức đã học vào thực tế - Nâng cao khả năng tự học tập, nghiên cứu và tím kiếm tài liệu - Giúp sinh viên làm việc có khoa học hơn, bố trí thời gian làm việc tốt hơn và đạt hiệu quả hơn.
Ý nghĩa thực tiễn - Đề tài giúp hiểu rõ hơn về điều kiện tự nhiên,tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Kinh Môn trong những năm gần đây - Đánh giá được những thuận lợi, thành quả và những khó khăn trong công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt. Đưa ra các biện pháp giúp địa phương quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt có hiệu quả hơn. - Kết quả của đề tài là căn cứ giúp tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân trong vấn đề bảo vệ môi trường. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học 2.1 Tổng quan về chất thải Theo điều 3 Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 9/04/2007 về quản lý chất thải rắn[11] - Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người. - Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại. - Chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng được gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt.
- Phế liệu là sản phẩm, vật liệu bị loại ra từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng, được thu hồi để tái chế, tái sử dụng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất sản phẩm khác. - Thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận. - Lưu giữ chất thải rắn là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý. Khái niệm về chất thải - Theo Khoản 12 Điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường 2014 thì khái niệm chất thải như sau : " Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác".
Nguồn phát sinh và phân loại chất thải rắn: Các nguồn phát sinh CTR chủ yếu từ hoạt động: Công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và thương mại, khu dân cư, cơ quan, trường học, bệnh viện. Công nghiệp Nông nghiệp Giao thông Các nguồn khác (khu vui chơi, rác Nguồn phát Thương mại, dịch quét đường, xử lý vụ chất thải) sinh Cơ quan, trường Hộ dân cư, khu dân học cư Bệnh viện, cơ sở y tế Hình 2. Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải rắn Lượng rác thải sinh hoạt hàng ngày càng tăng do tác động của sự gia tăng dân số, sự phát triển kinh tế - xã hội, sự thay đổi tính chất tiêu dùng trong các đô thị và các vùng nông thôn. Trong đó chủ yếu phát sinh chất thải gồm: - Chất thải sinh hoạt từ hộ dân cư, hộ gia đình( nhà ở riêng biệt, khu tập thể, chung cư.): thực phẩm thừa, vải, da, gỗ vụn, thủy tinh, nilon, vỏ lon, cành lá cây, chất thải đặc biệt khác( đồ điện hỏng, acqui, pin,.) và các chất độc sử dụng trong gia đình.
- Từ các trung tâm thương mại, trường học, chợ, văn phòng, khách sạn, bệnh viện, trạm y tế và các công trình công cộng khác: thức ăn thừa, nhựa, kim loại, thủy tinh, dầu mỡ, lốp xe, nilon, chất thải y tế, mực in và các chất độc hại khác. 6 - Từ các hoạt động xây dựng, di dời( các địa điểm xây dựng mới, sửa chữa đường xá, di dời nhà cửa, cây cối.): gỗ, cành lá cây, sắt, cát, đá, bê tông, xi măng. - Công nghiệp (xây dựng, chế tạo, công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng, lọc dầu, nhà máy hóa chất, nhà máy điện.): các loại chất thải từ quá trình công nghiệp, chất thải không phải từ quá trình công nghiệp như thức ăn thừa, tro, bã, chất thải xây dựng, các chất thải độc hại khác. - Nông nghiệp: rơm, rạ, phế thải nông nghiệp, phế thải chăn nuôi, các chất độc hại như chai, lọ, bao bì thuốc trừ sâu, phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật.( Nguyễn Đình Hương, 2003)[6] * Phân loại: Theo Nguyễn Xuân Nguyên(2004[12] thì phân loại chất thải có thể dựa theo: - Theo nguồn gốc phát sinh: Chất thải sinh hoạt: Là những chất thải liên quan đến hoạt động sinh hoạt của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ thương mại.
Chất thải công nghiệp: Là các loại chất thải sinh ra từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, các chất thải này có thể ở dạng rắn, lỏng, khí. Lượng và loại phụ thuộc vào loại hình công nghiệp, mức tiên tiến của công nghệ và thiết bị, quy mô Chất thải nông nghiệp: Là những chất thải ra từ hoạt động sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, thu hoạch, chế biến nông sản. Chất thải y tế: Chất thải từ bệnh viện, trạm y tế như dây truyền dịch, găng tay, ống tiêm. Chất thải xây dựng: Là các phế thải như đất, đá, gạch.
- Theo trạng thái chất thải: Chất thải dạng rắn: Bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải nhà máy chế tạo, xây dựng. Chất thải lỏng: Phân bùn bể phốt, nước thải từ các nhà máy lọc dầu, nhà máy giấy. 7 Chất thải dạng khí: Khí thải từ các nhà máy nhiệt điện, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí, nhiệt điện, giao thông.