Chương 1: Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Chương 2: Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trong Công ty Dƣợc và Trang thiết bị y tế quân đội. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trong Công ty Dƣợc và Trang thiết bị y tế quân đội. 4 CHƢƠNG 1 SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Các khái niệm liên quan 1.1 Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Nguồn nhân lực (NNL) bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong tổ chức, còn nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực.
Thể lực chỉ sức khoẻ của thân thể nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khoẻ của từng con ngƣời, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực của mỗi con ngƣời còn tuỳ thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính,… Trí lực chỉ sức suy nghĩ, tƣ duy sáng tạo, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng nhƣ quan điểm, lòng tin, nhân cách… của từng con ngƣời. Trong sản xuất kinh doanh truyền thống, việc tận dụng các tiềm năng về thể lực của con ngƣời là không bao giờ thiếu hoặc lãng quên và có thể nói nhƣ đã đƣợc khai thác gần tới mức cạn kiệt. Sự khai thác các tiềm năng về trí lực của con ngƣời còn ở mức độ mới mẻ, chƣa bao giờ cạn kiệt, vì đây là kho tàng còn nhiều bí ẩn của mỗi con ngƣời.
[2,tr7] NNL là nguồn lực về con ngƣời và đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều khía cạnh. Trƣớc hết với tƣ cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cƣ có cơ thể phát triển bình thƣờng (không bị khiếm khuyết hoặc bị di tật bẩm sinh). [6,tr35] NNL với tƣ cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội là khả năng lao động của xã hội đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Với cách hiểu này NNL tƣơng đƣơng với nguồn lao động.
[6,tr35] 5 NNL còn có thể hiểu là tổng hợp cá nhân những con ngƣời cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần đƣợc huy động vào quá trình lao động. Với cách hiểu này NNL bao gồm những ngƣời từ giới hạn dƣới độ tuổi lao động trở lên (ở nƣớc ta tròn 15 tuổi). [6,tr35] Nhƣ vậy, NNL trong một doanh nghiệp là lực lƣợng lao động trong doanh nghiệp bao gồm tất cả những ngƣời làm việc trong doanh nghiệp đó, là toàn bộ khả năng lao động mà doanh nghiệp cần và có thể huy động cho việc thực hiện hoàn thành nhiệm vụ trƣớc mắt và lâu dài. NNL trong doanh nghiệp đƣợc xem xét theo quy mô (tức số lƣợng) và cơ cấu, qua đó phản ánh chất lƣợng lao động.
Số lƣợng lao động trong doanh nghiệp nhiều hay ít do yêu cầu nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Số lƣợng lao động đƣợc tính theo số có mặt trong danh sách và số bình quân. [1,tr157] Lao động trong danh sách là toàn bộ số ngƣời làm việc thƣờng xuyên hay hợp đồng trong doanh nghiệp 1 ngày trở lên đối với công việc trực tiếp sản xuất và 5 ngày trở lên đối với công việc không trực tiếp sản xuất.[1,tr157] Lao động bình quân trong danh sách là số lao động bình quân trong một thời kỳ nào đó của doanh nghiệp.2 Sử dụng NNL trong doanh nghiệp Quá trình hoạt động của doanh nghiệp gắn liền với quá trình sử dụng nhân lực, sử dụng nhân lực luôn là trọng tâm, thu hút sự nghiên cứu của khoa học quản lý, tổ chức khoa học lao động và nhiều ngành khác. Đã có nhiều học thuyết về sử dụng NNL.
Tuy nhiên ta có thể hiểu rằng: Sử dụng NNL trong doanh nghiệp là quá trình tổ chức và quản lý sức lao động trong sự kết hợp với các yếu tố sản xuất nhằm đạt đƣợc mục đích của quá trình đó. Đó chính là sự tác động có hệ thống các biện pháp khác nhau của ngƣời sử dụng lao động 6 đến ngƣời lao động nhằm đạt mục tiêu chung của doanh nghiệp sao cho ngƣời lao động phát huy đƣợc hết khả năng và năng lực tiềm tàng của mình. Sử dụng NNL trong doanh nghiệp đƣợc xem xét trên hai khía cạnh sử dụng nguồn nhân lực về số lƣợng (số lao động và thời gian lao động) và sử dụng nhân lực theo cơ cấu: giới tính, tuổi, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, lành nghề.3 Hiệu quả sử dụng NNL trong doanh nghiệp Kết quả thu đƣợc trong mỗi quá trình sử dụng nhân lực phản ánh hiệu quả sử dụng nhân lực. Từ trƣớc đến nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau xét từ nhiều góc độ về hiệu quả sử dụng NNL.
Có thể xét xét một vài khái niệm sau: Hiệu quả sử dụng nhân lực là mức độ tiết kiệm chi phí lao động tƣơng ứng với mức tăng kết quả sản xuất - đây chính là biểu hiện bản chất của hiệu quả sử dụng nhân lực không phải khái niệm hiệu quả sử dụng nhân lực. Theo cách khác, hiệu quả sử dụng nhân lực là các chỉ tiêu đƣợc xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa kết quả với chi phí bỏ ra. Thực ra các khái niệm này chỉ muốn nói lên phƣơng thức xác định các chỉ tiêu chứ không toát lên ý niệm của vấn đề. Hiệu quả sử dụng NNL là mức tăng kết quả sản xuất kinh doanh trên mỗi lao động - quan điểm này muốn đƣa hiệu quả sử dụng NNL về một chỉ tiêu tổng hợp cụ thể.
Bởi vậy, theo ý hiểu của bản thân thì hiệu quả sử dụng NNL trong doanh nghiệp là kết quả đem lại từ mô hình, chính sách quản lý và sử dụng nhân lực. Kết quả đạt đƣợc ngoài thể hiện trên các chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh còn thể hiện ở khả năng sử dụng nguồn nhân lực đúng ngành nghề, đảm bảo sức khoẻ, an toàn cho ngƣời lao động, mức độ chấp hành kỷ luật của mỗi ngƣời lao động, ở bầu không khí tập thể đoàn kết, giúp đỡ lẫn 7 nhau, mối quan hệ thân mật giữa nhà quản lý với ngƣời lao động và khả năng đảm bảo công bằng cho ngƣời lao động. Bản chất của hiệu quả sử dụng lao động là nâng cao năng xuất lao động và tiết kiệm lao động sống [1,tr165].2 Nội dung phân tích tình hình sử dụng NNL trong doanh nghiệp Sử dụng NNL trong doanh nghiệp đƣợc xem xét trên hai khía cạnh là sử dụng NNL về số lƣợng (số lao động và thời gian lao động) và sử dụng NNL theo cơ cấu: giới tính, tuổi, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, lành nghề. Phân tích tình hình sử dụng NNL trong doanh nghiệp nhằm: Một là, phân loại và nắm chắc số lƣợng và chất lƣợng lao động trong doanh nghiệp; Hai là, phát hiện những bất hợp lý và lãng phí của việc sử dụng NNL trong doanh nghiệp; Ba là, chỉ rõ các nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng không hợp lý hoặc lãng phí NNL của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp có biện pháp khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn lực lƣợng lao động của mình trong kỳ tới nhằm đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh.
Phân tích tình hình sử dụng NNL hay lực lƣợng lao động trong doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng nó giúp doanh nghiệp có biện pháp và phƣơng hƣớng sử dụng NNL đúng ngƣời, đúng việc, đúng thời gian và trình độ năng lực nhằm đạt kết quả cao nhất trong sản xuất kinh doanh, tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao đời sống của ngƣời lao động mà con nâng cao sự thoả mãn của ngƣời lao động trong thực hiện công việc, tạo động lực trong lao động. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ xây dựng các chƣơng trình tuyển trọn lao động, bố trí lao động hợp lý, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực để doanh nghiệp có sẵn lực lƣợng lao động đáp ứng đƣợc yêu cầu về số lƣợng và chất lƣợng trong mọi tình huống.1 Cơ cấu NNL trong doanh nghiệp Chất lƣợng NNL trong doanh nghiệp đƣợc phản ánh thông qua cơ cấu lao động. Cơ cấu lao động trong doanh nghiệp đƣợc phân theo chức năng thực hiện công việc, theo tuổi, trình độ văn hoá, chuyên môn, lành nghề, sức khoẻ.1 Cơ cấu lao động theo chức năng [1,tr159] Lao động trong doanh nghiệp thuộc khu vực sản xuất kinh doanh nhƣ doanh nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng. theo chức năng đƣợc chia thành: - Lao động trực tiếp: gồm công nhân và học nghề.
Công nhân là ngƣời trực tiếp sản xuất hoặc tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp. Tuỳ theo vai trò sản xuất hoặc tham gia, toàn bộ công nhân lại chia thành công nhân chính, công nhân phụ và công nhân phục vụ. - Lao động gián tiếp gồm lao động quản lý kỹ thuật, quản lý kinh tế, quản lý hành chính và lao động chuyên trách công tác Đảng, Đoàn thanh niên, Công đoàn.2 Cơ cấu lao động theo giới tình [1,tr162] Cơ cấu lao động theo giới tính đƣợc xem xét trên góc độ tỷ trọng lao động nam, nữ so với tổng lao động trong doanh nghiệp. Từ đó cho phép đánh giá nguồn nhân lực trên góc độ: phân công lao động, bố trí lao động; đào tạo và phát triển nhân lực phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, sức khoẻ.
năng lực và sở trƣờng của từng giới.3 Cơ cấu lao động theo tuổi [1,tr162] Cũng giống nhƣ cơ cấu lao động theo giới tính việc nghiên cứu tỷ trong lao động ở từng độ tuổi hoặc nhóm tuổi so với tổng số lao động trong doanh 9 nghiệp giúp cho ngƣời sử dụng lao động trong doanh nghiệp phân công bố trí lao động đƣợc hiệu quả.4 Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn, lành nghề [1,tr163] Trình độ chuyên môn, lành nghề của ngƣời lao động thể hiện ở mặt chất sức lao động. Nó biểu hiện ở tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật phức tạp thuộc một nghề hay một chuyên môn nào đó. Với công nhân là trình độ chuyên môn kỹ thuật (bậc thợ) và đối với cán bộ chuyên môn là tiêu chuẩn nghiệp vụ nhà nƣớc (tiêu chuẩn về trình độ học vấn, chính trị, tổ chức quản lý). Mỗi công việc đòi hỏi một trình độ thành thạo nhất định.
Tổ chức lao động hợp lý đòi hỏi phải sử dụng lao động phù hợp với trình độ chuyên môn.