CHƯƠNG 1 N H Ũ N G V Ấ N ĐỂ C ơ B Ả N V Ể R Ủ I RO T ÍN D Ụ N G VÀ Q U Ả N T R Ị R Ủ I RO T ÍN D Ụ N G 1. KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG K IN H DOANH VÀ CÁC LOẠI RỦI RO T R O N G H O Ạ T Đ Ộ N G K IN H D O A N H C Ủ A N G Â N H À N G T H Ư Ơ N G M Ạ I. Khái niệm, đặc điểin cua Ngân hàng thương mại. Ra đời từ những năm cuối thế kỷ 18 với hình thức hoạt động chủ yếu là huy động tiền gửi và cho vay, đến nay, trải qua 2 thế kỷ hình thành, tồn tại và phát triển, các NHTM đã có sự thay đổi rất nhiều so với thời điểm ban đầu, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội.
Khi nghiên cứu về Ngân hàng thương mại, các nhà kinh tế học đưa ra rất nhiều những quan niệm khác nhau về NHTM. Có trường phái cho rằng “NHTM là tổ chức tài chính nhận tiền gửi và cho vay tiền Trường phái khác lại nhận định: " NHTM là trung gian tài chính có giấy phép kinh doanh của Chính phủ để cho vay tiền và mở tài khoản tiền gửi, kể cả các khoản tiền gửi có thể dùng séc. Sở dĩ có tình trạng này là do hoạt động NHTM rất đa dạng, các thao tác trong từng nghiệp vụ Ngân hàng lại phức tạp và vấn đề này luôn biến động theo sự thay đổi chung của nền kinh tế. Mặt khác, do tập quán, luật pháp của mỗi quốc gia, mỗi vùng khác nhau đã dẫn đến những quan niệm về NHTM không đồng nhất giữa các nước trên thế giới.
Theo điều 20 Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam có nêu: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Từ định nghĩa chung đó, căn cứ vào tính chất và mục tiêu hoạt động Luật còn chỉ rõ các loại hình ngân hàng gồm: NHTM, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng họp tác xã và các loại hình ngân hàng khác. Nghị định 49/2002/NĐ-CP ngày 12/09/2002 của Chính phủ nêu rõ “NHTM là Ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước”.[8] Ngày nay, trong thế giới hiện đại, hoạt động của các tổ chức tài chính là môi giới trên thị trường tài chính ngày càng phát triển về số lượng và quy mô hoạt động, 1 đa dạng và phong phú, hoạt động đan xen lẫn nhau. Người ta phân biệt NHTM với các tổ chức trung gian tài chính khác là ở chỗ NHTM là ngân hàng kinh doanh tiền gưi, chu yêu là tiên gửi không kỳ hạn, chính từ hoạt động đó đã tạo cơ hội cho NHTM có thể làm tăng bội số tiền gửi của khách hàng trong hệ thống ngân hàng cua minh.
Đo chinh la đặc trưng cơ bản đê phàn biệt NHTM với các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác. Như vậy , NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ thônơ qua các nghiệp vụ huy động các nguồn vốn để cho vay, đầu tư và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác. Ngân hàng thương mại có một sô đặc điểm sau: - Vốn băng tiền vừa là phương tiện vừa là đối tượng của quá trình kinh doanh. - Ngân hàng kinh doanh chủ yếu là bằng vốn của người khác chứ không phải bằng vốn chủ sở hữu của mình.
- Hoạt động kinh doanh ngân hàng có liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau và kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau. - Kinh doanh ngân hàng chịu nhiều rủi ro cả về sự đa dạng cũng như mức độ. Vơi nhưng đạc diêm trên kinh doanh ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh chịu nhiều giám sát, ràng buộc về mặt pháp lý. Các nghiệp vụ chủ yêu của Ngân hàng thương mại.
- N ghiệp vụ huy động vốn : Đây là nghiệp vụ cơ bản đầu tiên của NHTM. Nó quyết định quy mô cũng như hiệu quả các hoạt động khác của NHTM. NHTM có thể huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội bằng cách nhận tiền gửi của các cá nhân các tổ chức kinh tế qua các hình thức tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn tiền gửi tiet kiẹm va cac hình thức khác như phát hành kì phiêu ngân hàng, phát hành các chứng chỉ tiền gửi hay vay vốn của NHNN hoặc các tổ chức tín dụng khác. N ghiệp vụ cấp tín dụng và đầu tư : Đi đôi với nghiệp vụ huy động vốn là nghiệp vụ cho vay, đây là hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận chủ yếu cho NHTM(thương chiêm khoang 80% tông thu nhập).
Thực hiện nghiệp vu này NHTM sư dụng phân lớn sô vốn đã huy động để cung cấp cho các nhu cầu của nền kinh tế qua các hình thức như cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh đầu tư chứng khoán, góp vốn tham gia hay tự đầu tư vào các dự án mang lại lợi nhuận. Có thể thấy hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhát của NHTM, nó liên quan đen tât cả các ngành các linh vực của nền kinh tê. Tuy nhiên, hoạt động lại chứa đựng rủi ro tiềm ẩn từ tất cả các ngành các lĩnh vực đó. Chính vì vậy việc nghiên cứu RRTD va quản trị RRTD là vấn đề cấp bách luôn được các NHTM quan tâm.
- Các dịch vụ ngân hàng khác: 2 Ngoài các nghiệp vụ cơ bản trên, NHTM còn tiến hành các hoạt động dịch vụ để đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng nhằm thu hút khách hàng đồng thời đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho ngân hàng dưới hình thức lệ phí hoặc hoa hồng. Các hoạt động dịch vụ của NHTM gồm có: + Dịch vụ thanh toán và chuyển tiền. + Dịch vụ mua bán và môi giới chứng khoán. + Dịch vụ tư vấn đầu tư.
+ Dịch vụ quản lý tài sản và các chứng từ có giá. Có thể nói, các nghiệp vụ của NHTM đều rất quan trọng và liên quan chặt chẽ với nhau. Nghiệp vụ huy động vốn là tiền đề tạo nguồn vốn tích luỹ cho các hoạt động nghiệp vụ. Hoạt động tín dụng và đầu tư đem lại nguồn thu nhập cho NHTM.
Còn các hoạt động dịch vụ thu hút thêm khách hàng, tạo điều kiện cho việc mở rộng hoạt động huy động tiền gửi và kinh doanh của NHTM. Tuy nhiên, nghiệp vụ tín dụng vẫn là nghiệp vụ quan trọng nhất quyết định kết quả kinh doanh của NHTM. C á c lo ạ i rủ i ro tr o n g h o ạ t đ ộ n g c ủ a N g á n h à n g th ư ơ n g m ại. Hoạt động của NHTM rất đa dạng và phong phú, đồng thời rủi ro cũng phức tạp và với một độ nhạy hiếm thấy.
Những rủi ro của NHTM thường tập trung vào 4 loại rủi ro sau đây.1 nêu lên 4 loại rủi ro trong hoạt động của NHTM.l:C ác loại rủi ro của Ngân hàng Thương mại CÁC LOẠI RỦI RO RỦI RO RỦI RO RỦT RO RỦI RO THỊ TRUỠNG TÍN DỤNG HOẠT ĐỘNG THANH KHOẢN Lãi suất Sự kiện phá sản Giao dịch không Rủi ro thanh Tỷ giá Tín dụng được thực hiện khoản ngắn hạn Chứng khoán Giao dịch bất Rủi ro hoàn trả 30-40% 60-70% họp pháp nợ Chấp nhận rủi ro như là Tránh hoặc giảm thiểu hoạt động cốt lõi của ngân hàng rui ro - Rủi ro thị trường: Rủi ro thị trường là rủi ro đối với lợi nhuận và vốn của Ngân hàng do những thay đổi trong mức lãi suất, chứng khoán, tỷ giá ngoại tệ và cổ 3 phiếu cũng như sự biến động trong các giá cả đó. Rủi ro thị trường còn được gọi là rủi ro “giá cả”. - Rủi ro tín dụng: Là rủi ro phát sinh trong trường hợp ngân hàng cho vay mà không có khả năng thu hồi được đầy đủ gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng hạn. Nếu không có rủi ro thì nguồn thu nhập tín dụng của ngân hàng là có giới hạn dưới dạng lãi của các khoản tín dụng, khi có rủi ro, ngân hàng có thể mất một phần hay toàn bộ lãi và vốn gốc.
Điều này còn phụ thuộc vào khả năng bồi hoàn của tài sản thê chấp và kết quả của việc thanh lý tài sản trong trường hợp người đi vay phá sản. - Rúi ro thanh khoản: Các ngân hàng cần phải luôn luôn giữ một mức thanh khoản vừa đủ để đúng ở trạng thái mà trong các điều kiện kinh doanh bình thường có thể thực hiện được tất cả các nghĩa vụ, thực hiện đầy đủ các cam kết và đáp ứng các cam kết khác mà họ đưa ra. Khi ngân hàng không đảm bảo được nhu cầu thanh toán hay không dự liệu trước được nhu cầu có tính chất thời vụ gày ra sự mất lòng tin vào ngân hàng dẫn đến việc rút tiền gửi một cách đồng loạt chính là rủi ro thanh khoản. - Rủi ro hoạt động: là rủi ro khi ngân hàng phải chịu tổn thất trực tiếp hay gián tiếp từ các sự kiện hoặc hành động xảy ra do thất bại của công nghệ, các quá trình xử lý, hệ thống hạ tầng, nhân công hoặc các rủi ro khác có tác động đến hoạt động của ngân hàng, bao gồm cả hoạt động lừa đảo.
Tín dụng và vai trò của tín dụng. Theo quan điểm của Các Mác: “ Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời m ột lượng giá trị từ người sỏ hữu đến người sử dụng, sau m ột thời gian nhất định s ẽ thu hồi lại m ột lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu Kinh tế học hiện đại cho rằng: “ Tín dụng là mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó m ột bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong m ột thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên chuyển giao tiền hoặc tài sản vô điêu kiện theo thời hạn đ ã thoả thuận ”.