Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Trình bày những vấn đề lý luận cơ bản và các quy định của nhà nước về quản lý hoạt động khoa học và công nghệ. Có nhiều lý luận liên quan tới quản lý hoạt động KH&CN. Chương này đề cập tới những nội dung trực tiếp là cơ sở cho các phân tích ở chương sau. Bao gồm lý thuyết cơ bản: Các khái niệm về Khoa học, công nghệ, quản lý nhà nước về hoạt động KH&CN.
là những vấn đề lý thuyết cơ bản về đối tượng nghiên cứu, từ đó có thể hệ thống hóa và làm rõ đối tượng nghiên cứu, làm cơ sở cho việc đánh giá và đề xuất các vấn đề về quản lý hoạt động KH&CN trong chương tiếp theo. Các khái niệm chung về khoa học và công nghệ 1. Khoa học và công nghệ (KH&CN) Theo UNESCO, khoa học là một tập hợp những hiểu biết về tự nhiên, xã hội và tư duy về các quy luật khách quan, về sự tồn tại và phát triển của chúng trên cơ sở thực tiễn. Các lĩnh vực KH&CN bao gồm: Khoa học tự nhiên; Khoa học xã hội, Nhân văn; Khoa học kỹ thuật và công nghệ; Khoa học Nông nghiệp; Khoa học Y dược.
Theo Luật KH&CN năm 2013 “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy” [12, tr. Quan niệm của UNESCO và theo Luật KH&CN cho thấy, khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển, hỗ trợ kỹ thuật cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. KH&CN có vai trò quan trọng: là công cụ trong việc phát triển con người (nhất là công nghệ gen hay công nghệ sinh học,. từ đó phục vụ hiệu quả cho việc chăm sóc sức khỏe con người); Tăng sức cạnh tranh cho hàng hóa và thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường; phục vụ nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội.
Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm Khoa học theo Luật KH&CN năm 2013. Theo định nghĩa của UNIDO: công nghệ là việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào công nghiệp bằng cách nghiên cứu và xử lý một cách hệ thống, có phương pháp. Theo định nghĩa của ESCAP: Công nghệ là một hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Nó gồm kiến thức, kỹ năng, 9 thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ.
Theo Luật chuyển giao công nghệ của Việt Nam (2017), công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Các thành phần công nghệ gồm các yếu tố: Kỹ thuật (Technoware), Con người (Humanware), Thông tin (Inforware) và Tổ chức (Organware). Theo Luật Chuyển giao công nghệ: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm” (Điều 3. Khái niệm công nghệ của Luật CGCN, cũng trùng với khái niệm công nghệ, nêu tại Điều 3.2, Luật KH&CN năm 2013.
Công nghệ bao gồm phần cứng (công cụ, phương tiện…) và phần mềm (kỹ năng, bí quyết, kinh nghiệm…). Hoạt động khoa học và công nghệ Hoạt động KH&CN, theo UNESCO, là tất cả các hoạt động có tính hệ thống liên quan chặt chẽ với sự phát hiện, phát triển, truyền bá và áp dụng kiến thức khoa học và kỹ thuật trong tất cả các lĩnh vực của KH&CN [UNESCO, 28]. Trong hệ thống thống kê của UNESCO, hoạt động KH&CN bao gồm: - Hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm (viết tắt là hoạt động R&D): + Nghiên cứu khoa học gồm: Nghiên cứu ứng dụng; Nghiên cứu cơ bản. + Triển khai thực nghiệm gồm: Tạo ra vật mẫu, tạo dựng công nghệ mới (pilot) và sản xuất thử; Chuyển giao công nghệ; Phát triển công nghệ (theo chiều rộng và theo chiều sâu).
- Hoạt động giáo dục và đào tạo KH&CN. - Hoạt động dịch vụ KH&CN. Luật Khoa học và Công nghệ (2013) quy định hoạt động KH&CN bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ. Như vậy, Luật KH&CN 2013 chưa coi hoạt động giáo dục và đào tạo KH&CN là loại hình hoạt động KH&CN.
Mục đích của luận văn này là nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý nhà nước về KH&CN, do vậy, khái niệm hoạt động KH&CN của Luật KH&CN 2013 là khái niệm chủ đạo. Trong quá trình vận dụng khái niệm này, những điểm khác biệt so với định nghĩa chung về hoạt động KH&CN của UNESCO sẽ được 10 làm rõ hoặc lưu ý. Theo Luật KH&CN 2013, hoạt động KH&CN được phân ra thành 02 nhóm hoạt động cơ bản, gồm: (i) Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và (ii) Hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ. Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (NC&PT) 1.
Nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học (NCKH) là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn (Khoản 4 Điều 3 Luật KH&CN). Định nghĩa về nghiên cứu khoa học trên đây là một định nghĩa rất tổng quát, tôn trọng triệt để bản chất tự nhiên của các lĩnh vực KH&CN. Để hiểu rõ khái niệm nghiên cứu khoa học trong từng lĩnh vực KH&CN UNESCO bổ sung hai định nghĩa sau: - Hoạt động nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học nông nghiệp và khoa học y dược là những hoạt động có tính hệ thống và sáng tạo nhằm giải thích các hiện tượng, các đặc tính tự nhiên, các định luật và các quan hệ bên trong của các hiện tượng này và nhằm áp dụng những tri thức này vào đời sống thực tế. - Hoạt động nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn là những hoạt động có tính hệ thống và sáng tạo nhằm nâng cao hoặc bổ sung những tri thức về con người, văn hoá-xã hội, và nhằm sử dụng những tri thức này để giải quyết các vấn đề về xã hội và con người.
Trong đa số các lĩnh vực KH&CN, hoạt động nghiên cứu khoa học có thể phân ra thành nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng: + Nghiên cứu cơ bản là hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm khám phá bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy (Khoản 5 Điều 3 Luật KH&CN); + Nghiên cứu ứng dụng là hoạt động nghiên cứu khoa học vận dụng kết quả nghiên cứu khoa học nhằm tạo ra công nghệ mới, đổi mới công nghệ phục vụ lợi ích của con người và xã hội (Khoản 6 Điều 3 Luật KH&CN). Khái niệm hoạt động nghiên cứu khoa học trên đây về cơ bản giống như khái niệm của UNESCO và OECD về nghiên cứu khoa học, cụ thể: NCKH có thể xác định là tập hợp toàn bộ các hoạt động có hệ thống và sáng tạo nhằm phát triển kho tàng kiến thức khoa học và nhằm áp dụng chúng vào thực tiễn. NCKH bao gồm hai hoạt động kế tiếp nhau: nghiên cứu cơ bản (basic research, pure research, fundamental research) và nghiên cứu ứng dụng (applied research). Trong đó, nghiên 11 cứu cơ bản nhằm tìm ra những tri thức khoa học làm nền tảng cho các nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu ứng dụng khác, nghiên cứu cơ bản có thể xác định là bất kỳ công tác thực nghiệm hoặc lý thuyết nào được tiến hành nhằm đạt được những kiến thức mới về các hiện tượng, thực tế quan sát được mà chưa có một nghiên cứu ứng dụng hoặc vận dụng đặc biệt nào.
Nghiên cứu ứng dụng nhằm tìm ra các tri thức khoa học để giải quyết các vấn đề đặt ra từ nhu cầu thực tế, nghiên cứu ứng dụng được xác định như là một nghiên cứu đầu tiên được tiến hành nhằm đạt được những kiến thức mới nhưng chủ yếu có một mục đích hoặc một mục tiêu thực tiễn đặc thù. Giá trị khoa học của nghiên cứu ứng dụng nằm ở chỗ nghiên cứu đó có thể viết ra thành những phương pháp chung hoặc bài học cho mọi người cùng dùng, công bố dưới dạng các ấn phẩm. Phát triển công nghệ Phát triển công nghệ là hoạt động sử dụng kết quả nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, thông qua việc triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm để hoàn thiện công nghệ hiện có, tạo ra công nghệ mới (Khoản 7 Điều 3 Luật KH&CN). Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ để tạo ra sản phẩm công nghệ mới ở dạng mẫu (Khoản 8 Điều 3 Luật KH&CN).
Sản xuất thử nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm để sản xuất thử nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống (Khoản 9 Điều 3 Luật KH&CN). Tại Việt Nam, khái niệm “Phát triển công nghệ” trên đây đang được dùng và coi là đồng nghĩa với khái niệm “Triển khai thực nghiệm” (Experimental Development) theo UNESCO và OECD. Theo đó, “Triển khai thực nghiệm” là những hoạt động có tính hệ thống, vận dụng các kết quả của nghiên cứu khoa học, kinh nghiệm thực tế và sáng tạo thêm tri thức nhằm tạo ra các sản phẩm mới hoặc quy trình mới hoặc hoặc cải tiến những sản phẩm hoặc quy trình đang có [29, 30 tr. Theo nhà nghiên cứu Vũ Cao Đàm, nội dung của triển khai thực nghiệm gồm 3 giai đoạn [28, tr.129]: (i) Chế tác mẫu sơ khởi (Prototypes): Làm ra mẫu (của sản phẩm hoặc công nghệ) đầu tiên, như một bước hiện thực hoá tư tưởng khoa học thành sản phẩm hoặc công nghệ để chuẩn bị đưa vào sản xuất.
12 (ii) Làm pilot (Installation pilots): Thử nghiệm để tạo ra quy trình sản xuất, tạo ra công nghệ sản xuất sản phẩm theo prototype đã làm thử nghiệm thành công trong phòng thí nghiệm ở giai đoạn prototype. (iii) Sản xuất thử nghiệm: Sản xuất thử, các nhà công nghệ thường gọi đó là giai đoạn sản xuất “Loạt 0”, để khẳng định độ tin cậy của công nghệ.