Chương 1: Dat van dé - Tinh cap thiết của việc thực hiện nghiên cứu; - Mục tiêu của nghiên cứu; - Phạm vi, đối tượng của nghiên cứu; - Phương pháp, công cụ nghiên cứu - Đóng øóp của nghiên cứu - Câu trúc của Luận Văn Chương 2: Tổng quan - Tổng quan các nghiên cứu trước đây về DEA trên thé giới. - Tổng quan các nghiên cứu trước đây về DEA tại Việt Nam. Chương 3: Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu - Hiệu quả hoạt động ngành công nghiệp xây dựng - Lua chọn phương pháp danh giá hiệu quả hoạt động ngành công nghiệp xây dựng TCLVRUAN w - Lịch sử hình thành, cơ sở lý thuyết của phương pháp phân tích định lượng Data Envelopment Analysis - Cac mô hình DEA cơ ban - Các chi số thay đổi năng suất Malmquist. 2 Chương 4: Phương pháp nghiên cứu - Quy trình nghiên cứu đo lường hiệu quả hoạt động ngành công nghiệp xây dựng Việt Nam; x - Các công cụ xử lý số liệu.
Chương 5: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu - Do lường và phân tích hiệu quả hoạt động ngành công nghiệp xây dựng Việt Nam; - Do lường và phân tích các chỉ số thay đổi năng suất Malmquist. Chương 6: Kết luận và kiến nghị - Kêt luận - Kiến nghị GVHD:TS.LE HOÀI LONG HVTH: TRAN TUAN KIET Chuyên ngành: Công Nghệ & Quan Lý Xây Dung MSHV: 10080287 Luận Văn Thạc Sỹ Trang 14 CH ƠNG2— TONG QUAN CHUONG 2 TONG QUAN TINH HINH NGHIEN CUU O VIET NAM VA THE GIOI 2. TINH HÌNH NGHIÊN CỨU TREN THE GIỚI: Kế từ khi nghiên cứu dau tiên về DEA của Charnes “Measuring the efficiency of decisionmaking units” [2| năm 1978, đã có sự tăng trưởng nhanh và liên tục trong lĩnh vực này. Kết quả là, đã xuất hiện một số lượng đáng kế các nghiên cứu được công bố, với một phan đáng kể tập trung vào ứng dụng DEA dé do lường hiệu quả và năng suất trong các hoạt động ở trên nhiều lĩnh vực.
Và xu hướng trong tương lai DEA và các ứng dụng của nó sẽ tiếp tục là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng. Ali Emrouznejad, Barnett R. Parker, Gabriel Tavares tìm thấy ít nhất ba lý do cho xu hướng này sẽ tiếp tục mạnh mẽ trong tương lai [4]: 4 Đo lường hiệu quả va năng suất của các tô chức lớn là một bài toán không bình thường, liên quan đến một cau trúc phức tap gdm nhiều dau vào và dau ra. Và DEA với ban chất được thiết kế dé giải quyết các van dé có liên quan đến hiệu quả và năng suất.
+ Có một số lượng vô tận của các ứng dụng thực tế liên quan đến đo lường hiệu quả có sẵn, kích thích các học giả và quyển lợi của học viên trong việc thực hiện nghiên cứu. % Kha năng để có được dữ liệu nghiên cứu bây giờ là tương đối dễ dàng hơn so với một thập kỷ trước. Trên thé giới, cách tiếp cận nay được dé cập đến trong một số nghiên cứu tiêu biểu sau: Xue. và cộng sự [5] đã sử dụng phương pháp phân tích định lượng DEA và các chỉ số thay đối năng suất Malmquist dé đo những thay đổi năng suất của ngành công nghiệp xây dựng của Trung Quốc từ 1997 dé 2003.
Nghiên cứu nay đã GVHD:TS.LE HOÀI LONG HVTH: TRAN TUAN KIET Chuyên ngành: Công Nghệ & Quan Lý Xây Dung MSHV: 10080287 Luận Văn Thạc Sỹ Trang 15 CH ƠNG2— TONG QUAN sử dung mô hình DEA gồm 2 dau vào là tổng vốn, tong số lao động và 1 dau ra là giá tri gia tăng. Cac dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này được thu thập từ Niên giám Thống kê của Trung Quốc do Văn phòng Thống kê Trung Quốc, được xuất bản mỗi năm trong khoảng thời gian 1997-2003. Nghiên cứu phân chia các chỉ số thay đổi năng suất Malmquist thành hai thành phan: TEC và EPFS. TEC đo lường cường độ của sự thay đổi hiệu qua kỹ thuật giữa các thời gian khác nhau.
EPFS được sử dụng để phản ánh sự thay doi của biên hiệu quả ở những thời gian khác nhau. MPI là sản phẩm của TEC và EPFS. Các thay đối trong MPI được xác định bởi sự thay đổi của TEC và sự thay đổi của EPFS trong khoảng thời gian khác nhau. Nghiên cứu nay chỉ ra năng suất của ngành công nghiệp xây dựng của Trung Quốc có cải tiến liên tục 1997-2001.
Ngoại trừ một sự suy giảm năm 2001-2002. Nghiên cứu này cũng cho thấy răng vẫn còn khoảng cách lớn về trình độ năng suất giữa các vùng khác nhau trong ngành công nghiệp xây dựng của Trung Quốc. Những kết quả có được từ nghiên cứu đã cung cấp thông tin quan trọng cho các nhà hoạch định, người ra quyết định của chính phủ và tô chức xây dựng Edvarsen [6] đã sử dụng mô hình phân tích định lượng DEA với bộ biến số gôm 3 dau vào là: số lao động, vốn, chi phí cùng 1 dau ra là tong thu nhập dé phân tích hiệu quả hoạt động năm 2001 của các công ty xây dựng ở Na Uy. Các công ty này được phân chia theo loại hình công trình thi công: nhà ở, trường học, văn phòng, cầu đường, ham, bến cảng.
Kết quả ước lượng cho thay hiệu quả trung bình của các công ty xây dựng tại Na Uy vào năm 2001 là 0. Nghiên cứu còn chỉ ra và giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các công ty nay, đó là: tiền lương cho mỗi giờ làm việc, số giờ làm việc trong ngày, sự đa dạng của sản phẩm. Brenda, Viet Tran và Ramandi [7] đã sử dụng mô hình DEA để xây dựng đường biên hiệu quả cho việc sơ tuyến nhà thầu. Dựa trên nguồn số liệu thu thập được là 10 hợp đồng có giá trị từ 3 đến 12 triệu Đô la, mỗi hợp đồng có ít nhất 15 GVHD:TS.LE HOÀI LONG HVTH: TRAN TUAN KIET Chuyên ngành: Công Nghệ & Quan Lý Xây Dung MSHV: 10080287 Luận Văn Thạc Sỹ Trang 16 CH ƠNG2— TONG QUAN gói sơ tuyến nhà thầu, một phương pháp ba giai đoạn có thé tao ra các tiêu chuẩn thực hành tốt nhất ( đường biên hữu hiệu) để so sánh các nhà thầu trong các loại dự án cụ thê được thành lập, các biến được sử dụng sẽ được mỗi chủ sở hữu tùy chỉnh để đáp ứng nhu cầu của họ.
Biên hữu hiệu thành lập thực tế có thể được sử dụng như một tiêu chuẩn hiệu suất cho các chủ dau tư trong khu vực sơ tuyên nhà thầu và hướng dân cải thiện cho các nhà thâu. Ba loại đường biên hữu hiệu Outputs A p Theoretical frontier ___ oe Practical frontier. `— Empirical frontier he + + p Inputs nguon: Brenda, Viet Tran va Ramandi Mohammad El-Mashaleh, William J. O’Brien, Kerry London [8] su dung mo hình CCR ( Charnes, Cooper va Rhodes, 1978 ) của phương pháp phân tích dữ liệu biên DEA như là một cach tiếp cận dé do luong va so sanh nang suất nhà thầu phụ ở cấp công ty.
Đặc biệt tập trung vào việc quản lý tài nguyên của các nhà thâu phụ. Với bộ biến số đầu vào được phân tích thành 3 chính sách quản lý : e _ Chính sách thiết bị: ca máy, chi phí khấu hao máy móc, chi phí vốn cho thuê thiết bi, chi phí bảo trì trung bình.LE HOÀI LONG HVTH: TRAN TUAN KIET Chuyên ngành: Công Nghệ & Quan Lý Xây Dung MSHV: 10080287 Luận Văn Thạc Sỹ Trang 17 CH ƠNG2-— TONG QUAN e Chính sách quan lý lao động: giờ công lao động e _ Chính sách nhân viên kỹ thuật: tiền lương, chi phí đào tao. Đối với các kết quả dau ra, tác giả xem xét từng loại công trình do nha thầu phụ thực hiện là một đơn vi sản lượng của nha thâu phụ đó. Qua số liệu phân tích tập mẫu gôm 9 nhà thâu xây dựng phụ ở cấp độ công ty, nghiên cứu đã chỉ ra một đường biên hiệu quả được tạo thành từ 3 công ty có kết quả phân tích tốt nhất, hiệu quả của các nhà thâu phụ không hiệu quả sẽ được xác định băng tỷ lệ khoảng cách từ gốc tọa độ tới biên hiệu quả.
Nghiên cứu cũng đã mở rộng sự phân tích giúp cho việc cải tiên, dịch chuyên các nhà thâu không hiệu quả về biên hiệu quả. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM: Mặc dù phương pháp phân tích định lượng băng cách tiếp cận mô hình phân tích hiệu quả biên theo hướng tiếp cận phi tham số DEA đã phát triển nhanh chóng và được chấp nhận rộng khap trên thé giới, nhưng tại Việt Nam các nghiên cứu đo lường hiệu quả hoạt động sử dụng cách tiếp cận này còn khá ít. Nguyễn Khăc Minh, Giang Thành Long [9] đã sử dụng mô hình phi tham số Data Envelopment Analysis (DEA) và mô hình có tham số Stochastic Frontier Production Funtion (SEPF) để phân tích hiệu quả hoạt động của các công ty xây dựng tại Việt Nam năm 2002. Dựa trên số liệu thu thập là các số liệu điều tra doanh nghiệp năm 2002 của tong cuc Thống kê Việt Nam, tác giả đã lựa chọn bộ biến số gôm 2 đầu vào là tổng số lao động trung bình trong năm va tổng tài sản cùng với 1 đâu ra là lợi nhuận ròng.
Các công ty xây dựng trong tập mẫu được phân chia theo loại hình sở hữu, theo lĩnh vực hoạt động va theo vi trí địa lý. Kết quả nghiên cứu có được là hiệu quả hoạt động trung bình của các công ty xây dựng lân lượt là 58,6% ( từ mô hình DEA) và 57,6% ( từ mô hình SFPF). Theo loại hình hoạt động thì các công ty xây dựng hoạt động trong lĩnh vực dân dụng và cơ sở hạ tâng có hiệu quả hoạt động thập nhật. Theo loại hình sỡ hữu thì những doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hoạt động hiệu quả hơn so với các doanh nghiệp ngoài quôc doanh, nguyên nhân có thê là do GVHD:TS.LÊ HOÀI LONG HVTH: TRAN TUAN KIET Chuyên ngành: Công Nghệ & Quan Lý Xây Dung MSHV: 10080287 Luận Văn Thạc Sỹ Trang 18 CH ƠNG2— TONG QUAN các doanh nghiệp này được dau tư công nghệ tốt hơn va dé dàng tiếp cận nguồn vốn hơn.
Nghiên cứu còn sử dụng mô hình hồi quy Tobit để xác định các nhân t6 ảnh hưởng đến độ đo hiệu quả với biến phụ thuộc là các độ đo hiệu quả, biến độc lập là tong số lao dong trung binh trong nam, tong vốn, bình phương lợi nhuận ròng, loại hình doanh nghiệp. Kết quả hồi quy cho thay các doanh nghiệp tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh có ảnh hưởng lớn đến kết quả các độ đo hiệu qua. Như vậy, có thé yếu tô tài chính, công nghệ và trình độ lao động của 2 thành phó này tốt hơn các địa phương khác.