CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Chương một sẽ tiến hành nghiên cứu một số cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài. Trong đó bố cục được chia làm ba phần, phần một sẽ giới thiệu về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Phần hai sẽ đề cập đến các yếu tố và mối quan hệ của các yếu tố đó đối với hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần. Phần ba sẽ tìm hiểu một vài nghiên cứu trước đây đã được công bố có liên quan tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.1 Tổng quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTMCP 1.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTMCP Theo McMahon (1995) cho rằng hiệu quả hoạt động kinh doanh như là một chỉ số được tính toán dựa trên các số liệu kế toán.
Chỉ tiêu này sử dụng để đánh giá hiệu quả quá trình tạo ra các giá trị tối đa cho các cổ đông. Hiệu quả hoạt động kinh doanh biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó (GS. Ngô Đình Giao, 1997, Giáo trình Quản trị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp, trang 408). Hiệu quả lợi nhuận tương ứng với hai mục tiêu kinh tế là giảm thiểu chi phí để tối đa hóa lợi nhuận (Maudos, Pastor, Perez và Quesada, 2002).
Từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu hiệu quả hoạt động kinh doanh còn phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra, được biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao.Ngoài ra, hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM có thể được đo lường thông qua các chỉ tiêu về khả năng sinh lợi. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM quyết định trực tiếp tới vấn đề tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng. Chính vì vậy mà các NHTM coi hiệu quả hoạt động kinh doanh là mục tiêu quan trọng hàng đầu.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTMCP Tỷ lệ ROA (Return on assets) Lợi nhu ận ròng (lợi nhu ận sau thu ế) ROA = x 100% Tổng tài sản Tỷ lệ này phản ánh hiệu quả kinh doanh trên một đơn vị tài sản có của ngân hàng, là thước đo hiệu quả đầu tư của ngân hàng bởi vì mọi tài sản có đều là những khoản đầu tư sinh lãi hàng ngày ngoại trừ tài sản tiền mặt và tài sản cố định. ROA cao khẳng định hiệu quả kinh doanh tốt, chứng tỏ ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các khoản mục trên tài sản có trước những biến động của nền kinh tế.
Chỉ tiêu ROA giúp nhà quản trị thấy được khả năng bao quát của ngân hàng trong việc tạo ra thu nhập từ tài sản có. Để tăng ROA, các ngân hàng cần phải gia tăng các khoản mục tài sản có sinh lời. Trong các khoản mục của tổng tài sản thì khoản đem lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng là khoản cho vay. Để tối đa hóa lợi nhuận, ngân hàng thường gia tăng khoản đầu tư tín dụng, đây cũng chính là khoản chứa đựng nhiều rủi ro nhất.
Như vậy ROA càng cao thì mức độ rủi ro càng cao. Tỷ lệ ROE (Return on Equity) Lợi nhu ận ròng (lợi nhu ận sau thu ế) ROE = x100% Vốn ch ủ sở hữu Tỷ lệ này đo lường hiệu quả sử dụng một đồng vốn chủ sở hữu. Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn của ngân hàng và các quỹ dự trữ, qua đó tỷ lệ này cho biết khả năng sử dụng vốn cổ phần của ngân hàng nên ROE có ý nghĩa quan trọng đối với cổ đông. ROE càng lớn cho thấy kết quả hoạt động trên vốn cổ phần tốt.
Mối quan hệ giữa ROA và ROE ROA và ROE là hai chỉ tiêu luôn luôn được các nhà quản trị ngân hàng đặc biệt quan tâm. Hai chỉ tiêu này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau thông qua công thức như sau: Lợi nhu ận ròng Lợi nhu ận ròng Tổng tài sản ROE = = x Vốn ch ủ sở hữu Tổng tài sản Vốn ch ủ sở hữu 123doc 6 Tổng tài sản ROE = ROA x Vốn ch ủ sở hữu Công thức trên cho thấy chỉ tiêu ROE dễ bị biến động do tỷ số tổng tài sản/vốn chủ sở hữu luôn lớn hơn 1 nhiều lần, vì vây ROE có độ nhạy cao hơn ROA gấp nhiều lần. Tuy nhiên nếu ROE quá lớn so với ROA cho thấy vốn chủ sở hữu của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với tổng nguồn vốn. Như vậy có thể thấy rõ rằng lợi nhuận của ngân hàng chủ yếu phụ thuộc vào vốn huy động, vì vậy có thể ảnh hưởng đến mức độ an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTMCP Để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng đòi hỏi phải xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và tác động của các yếu tố này từ đó có các giải pháp tăng cường các nhân tố tích cực nhằm tối ưu hóa lợi nhuận, hạn chế các hoạt động mang tính rủi ro, bảo toàn vốn từ các hoạt động kinh doanh của NHTM.
Bởi vì hiệu quả là điều kiện quyết định sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng, do đó nâng cao hiệu quả cũng là nâng cao năng lực tài chính, năng lực điều hành để có thể mở rộng các hoạt động kinh doanh nhằm nâng cao thương hiệu của các NHTM. Trong các bài nghiên cứu trước đây có đề cập đến rất nhiều yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại. Nhưng trong bài nghiên cứu này tác giả chia làm hai nhóm: nhóm nhân tố vĩ mô và nhóm nhân tố thuộc đặc điểm ngân hàng. Nhóm nhân tố vĩ mô bao gồm các yếu tố mà NHTM khó có thể kiểm soát được nhưng lại có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt đông kinh doanh của ngân hàng.
Còn nhóm nhân tố thuộc đặc điểm ngân hàng bao gồm các yếu tố mà Ngân hàng có thể kiểm soát và điều chỉnh được.1 Nhóm nhân tố bên ngoài (nhân tố vĩ mô) 1.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) Tốc độ tăng trưởng GDP được định nghĩa là sự thay đổi hàng năm của GDP. Chỉ số này phản ánh tình trạng của chu kỳ kinh tế. Tăng trưởng GDP được mong đợi sẽ có ảnh hưởng đến cung và cầu đối với các khoản vay và tiền gửi. Khi nền kinh tế bùng nổ, 123doc 7 nhu cầu tín dụng hoặc cho vay tăng theo chất lượng của tài sản.
Ngân hàng có thể tạo ra lợi nhuận cao hơn. Khi kinh tế chậm lại, tốc độ tăng trưởng GDP là quá chậm. Việc cho vay có khuynh hướng giảm. Ngoài ra, các ngân hàng có liên quan với nguy cơ vỡ nợ cao hơn và chi phí dự phòng có xu hướng cao hơn, do đó làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
Tóm lại, tăng trưởng GDP có thể được dùng như là một chỉ số về nhu cầu đối với ngành ngân hàng.(Ong Tze San và The Boon Heng, 2012) Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính làm cầu nối giữa khu vực tiết kiệm và khu vực đầu tư của nền kinh tế, do vậy những biến động của môi trường kinh tế, chính trị và xã hội có những ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các ngân hàng. Nếu môi trường kinh tế, chính trị và xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các ngân hàng thương mại, vì nó cũng là điều kiện làm cho quá trình sản xuất của nền kinh tế được diễn ra bình thường, đảm bảo khả năng hấp thụ vốn và hoàn trả vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Khi nền kinh tế có tăng trưởng cao và ổn định, các khu vực trong nền kinh tế đều có nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh do đó nhu cầu vay vốn tăng làm cho các NHTM dễ dàng mở rộng hoạt động tín dụng của mình đồng thời nợ xấu được cải thiện vì năng lực tài chính của các doanh nghiệp được nâng cao. Ngược lại, khi môi trường kinh tế, chính trị và xã hội trở nên bất ổn thì lại là những nhân tố bất lợi cho hoạt động của các NHTM như nhu cầu vay vốn giảm, nguy cơ nợ quá hạn, gia tăng nợ xấu làm giảm hiệu quả hoạt động của các NHTM.
(Nguyễn Việt Hùng, 2008) Thực tế các nghiên cứu trước đây ở nhiều nước cũng đã đưa ra những kết luận về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và hiệu quả hoạt động ngân hàng. Theo Kosmidou và cộng sự (2006), Hassan and Bashir (2003) tìm thấy GDP có tác động cùng chiều lên hiệu quả ngân hàng tại Anh. Sehrish Gul và cộng sự (2011) tìm thấy có mối quan hệ tích cực giữa hai yếu tố này tại các ngân hàng ở Pakistan. Còn theo Ong Tze San và The Boon Heng (2012); Sufian và Chong (2008) lại không tìm thấy bằng chứng nào về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và hiệu quả hoạt động lần lượt tại Malaysia và Philippines.2 Lạm phát (INF) Lạm phát là tỷ lệ mà tại đó mức giá cả chung của hàng hóa và dịch vụ đang gia tăng trong nền kinh tế theo thời gian.
Lạm phát làm xói mòn sức mua của người tiêu 123doc 8 dùng bởi vì chúng ta mua được ít hơn hàng hóa và dịch vụ hơn với từng đơn vị của tiền tệ. Mối quan hệ giữa lợi nhuận ngân hàng và lạm phát đã được giới thiệu bởi Revell (1980). Ảnh hưởng của lạm phát đến lợi nhuận ngân hàng phụ thuộc vào việc chi phí hoạt động tăng với tốc độ nhanh hơn so với lạm phát hoặc ngược lại. Trong 1 khía cạnh nào đó, Pasiouras và Kosmidou (2007) cho rằng lạm phát có thể có một tác động tích cực hoặc tiêu cực đến lợi nhuận các ngân hàng.
Mối quan hệ là tùy thuộc vào việc các tỷ lệ lạm phát được dự đoán trước hoặc không lường trước được. Nếu tỷ lệ lạm phát được dự đoán trước, các ngân hàng có thể điều chỉnh lãi suất kịp thời. Kết quả là, doanh thu tăng nhanh hơn chi phí và do đó có một tác động tích cực đến lợi nhuận.