Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại. Thực trạng hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội. C ơ SỞ LÝ LUẬN VÈ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HANG THƯƠNG MẠI.
Những vấn đề cơ bản về Ngân hàng thương mại. Bản chất của ngân hàng thương mại. Lịch sử nhiều thế kỹ đã qua không để lại cho chúng ta những thông tin đầy đủ về thời gian ra đời của ngân hàng thương mại. Nhiều nhà khoa học cho rằng, ngân hàng thương mại đầu tiên ra đời vào thế kỉ XIV và XV - thời kỳ tiền tư bản tại các thành phố của Italia.
Một số khác khẳng định rằng ngân hàng ra đời sớm hơn- trong chế độ phong kiến. Nghiên cứu nhiều tài liệu khác nhau, tác giả ủng hộ ý kiến cho rằng ngân hàng ra đời tại Italia là có cơ sở, bởi lẽ từ “ngân hàng” được gọi theo ngôn ngữ Italia. “Banco”- có nghĩa là “chiếc ghế”. Tài liệu ghi chép lại rằng bắt đầu từ năm 1707 những “chiếc ghế ngân hàng “ được đặt tại các trung tâm trao đổi hàng hóa.
Tại Italia việc trao đổi hàng hóa được tiến hành trên cơ sở vật trung gian là các loại tiền kim loại khác nhau. Khi khối lượng trao đổi lên đến mức lớn vượt khỏi tầm kiểm soát cá thể, thì phát sinh yêu cầu là cần phải có sự quản lý theo phương thức có tố chức. Từ đó các nhà chuyên môn ngân hàng đầu tiên ra đòi. Khái niệm “ngân hàng” đã được hình thành trong tư duy của con người đồng nghĩa với sự trao đổi và những “chiếc ghế” nói trên.
Như vậy, ngân hàng được hình thành trên nền tảng “trao đổi” hàng hóa trong xã hội. Điều này phù họp với lý thuyết tiền tệ rằng, sự vận động của tiền tệ chỉ diễn ra trên cơ sở của vận động hàng hóa. Trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, hình thái và nội dung hoạt động của ngân hàng có nhiều thay đổi do vậy các nhà khoa học cũng đưa ra 5 các định nghĩa khác nhau về ngân hàng thương mại. Trên diễn đàn kinh tế đã có định nghĩa:“Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt, sản xuất ra hàng hóa khác hẳn với hàng hóa làm ra trong lĩnh vực vật chất.
Hàng hóa của ngân hàng không phải là hàng hóa thông thường, mà là sản phẩm đặc biệt dưới dạng tiền tệ, phương tiện thanh toán” [7]. Định nghĩa này chỉ phản ảnh về hình thức của ngân hàng mà không phản ảnh sâu về nội dung. Để có khái niệm đầy đủ hơn, một số nhà khoa học đã đi theo hướng phân tích sâu các nhân tố cho phép một ngân hàng hiện đại được thành lập và hoạt động. Các yếu tố các nhà khoa học và chuyên môn tập trung phân tích là: Tư bản ngân hàng, như một loại tư bản đặc biệt, nằm trong lưu thông.
- Ngân hàng sản xuất ra các loại sản phẩm khác biệt với hàng hóa do các doanh nghiệp khác làm ra. - Một tập thể các cá nhân có trình độ chuyên môn, hiểu biết về lĩnh vực quản lý ngân hàng. Có cơ sở vật chất như trụ sở công nghệ, thông tin. Trên cơ sở phân tích đặc điểm của ngân hàng theo các tố thành nêu trên, nhiều chuyên gia trên thế giới định nghĩa ngân hàng là : “một tổ chức tiền tệ được luật pháp cho phép huy động vốn trong nền kinh tế để cho vay theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi, tổ chức thanh toán cho khách hàng có nhu cầu, làm dịch vụ thanh toán cho khách hàng”.
[7] Như vậy, hoạt động của ngân hàng thương mại có thể được coi là hoạt động có tính chất đặc thù của tổ chức tín dụng. Theo luật định của nhiều nước thì Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng được phép làm dịch vụ thanh toán.Tùy thuộc vào nguyên tắc tổ chức, ngân hàng thương mại được chia làm các loại. Chẳng hạn, căn cứ vào tính chuyên nghiệp ngân hàng thương mại có thể phân chia thành ngân hàng chuyên doanh, ngân hàng 6 đầu tư, ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng đa năng; theo lãnh thổ- ngân hàng khu vực, ngân hàng quốc gia, ngân hàng quốc tế, theo hình thức sở hữu - ngân hàng Nhà nước, ngân hàng cổ phần, ngân hàng tư nhân. Theo luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 1997 có bổ sung sửa đổi năm 2004 thì “Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng, được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”.
Điều 20 Luật các Tổ chức tín dụng quy định “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán”. Cũng theo thec luật các tổ chức tín dụng Việt Nam, thì ngân hàng thương mại có các loại hình khác nhau tùy thuộc vào tính chất và mục tiêu hoạt động. Hiện nay trên lãnh thổ Việt Nam hệ thống các ngân hàng thương mại gồm: Ngân hàng thương mại nhà nước - là loại hình ngân hàng được thành lập bằng vốn của ngân sách nhà nước. Ngân hàng thương mại cổ phần - là loại hình ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của các pháp nhân và/ hoặc thể nhân.
Ngân hàng liên doanh - ngân hàng được thành lập bằng nguồn vốn của một bên là các thể nhân và /hoặc pháp nhân là người nước ngoài và bên kia là các pháp nhân/ hoặc và thể nhân là người Việt Nam. Ngân hàng nước ngoài - ngân hàng thành lập bằng 100% vốn của nước ngoài. Dù là hình thức nào chăng nữa thì Ngân hàng cũng là doanh nghiệp “sản xuất ra các sản phẩm đặc thù” - Đó là những biện pháp 7 cụ thể mà bằng những biện pháp đó ngân hàng thương mại cung ứng hoặc san sàng cung ứng dịch vụ cho các khách hàng có nhu cầu. Những biện pháp này tập họp thành một hệ thống thống nhất, có logic và quan hệ lẫn nhau được thiết chế dưới hình thức bằng văn bản, quy định về mối tương tác lẫn nhau giữa các hành động trong các lĩnh vực luật pháp, công nghệ thông tin, tài chính, hành chính., nhằm cấu thành nền tảng giá trị giữa quan hệ của ngân hàng (cán bộ nhân viên, các đơn vị thành viên) với khách hàng, cũng như cấu thành một công nghệ hoàn chỉnh trong việc phục vụ khách hàng.
Vai trò, chức năng của ngân hàng thương mại. Vai trò và chức năng của ngân hàng thương mại có mối liên hệ mật thiết lẫn nhau. Mối quan hệ này mang yếu tố nhân quả. Chức năng đóng vai trò trụ cột.
Chức năng không được thực hiện thì vai trò không thể được phát huy. Chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại: Là trung gian tài chính ừong nền kinh tế thị trường. Ngân hàng thương mại huy động vốn trong nền kinh tế từ nơi thừa và tạm thời nhàn rỗi để chuyển tải đến nơi thiếu và cần vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi thực hiện chức năng của mình ngân hàng có khả năng tác động đến nền kinh tế cả về hai phương diện trên phạm vi hoạt động của các thế nhân cũng như pháp nhân.
Vai trò đó có thể là : - Sự dịch chuyển nguồn vốn sẽ tạo ra lợi ích kép - đó là tạo nguồn vổn cho sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội. Ý nghĩa này thật sự lớn lao kể cả phương diện vi mô và vĩ mô. Ớ phương diện vĩ mô, sự dịch chuyển này sẽ tạo ra thế cân bằng giữa các chỉ tiêu kinh tế - tăng trưởng - lạm phát - công 8 ăn việc làm. Đồng thời, quá trình dịch chuyển sẽ tạo ra nguồn thu cho các chủ sở hửu nguồn vốn dưới dạng thu nhập lãi.
- Thông qua sự dịch chuyển vốn trong nền kinh tế Nhà nước sẽ áp dụng các công cụ để điều tiết nền kinh tế phát triển theo ý muốn của mình. - Nhờ chức năng trung gian này ngân hàng có thể tổ chức các nghiệp vụ, qua đó tạo nguồn thu nhập cho chính bản thân ngân hàng. Các nhà khoa học và kinh tế cho rằng Ngân hàng là huyết mạch của nền kinh tế. Chúng ta có thể diễn giải ý kiến này dưới hình tượng: chức năng trung gian tài chình là trái tim - các nghiệp vụ của ngân hàng là những huyết mạch chuyền tải máu nuôi cơ thể .Nguyên tắc hoạt động của ngân hàng thương mại.
Nguyên tắc giới hạn bởi nguồn vốn. Nguyên tắc đầu tiên và cơ bản nhất trong hoạt động ngân hàng là hoạt động đó chỉ được diễn ra trong khuôn khổ nguồn vốn mà ngân hàng có được. Điều đó có nghĩa là trong quá trình hoạt động, ngân hàng thương mại cần phải đảm bảo không những tính phù hợp về mặt định lượng giữa nguồn vốn huy động được và dư nợ cho vay, mà còn phải đảm bảo được tính phù họp giữa tính chất và nội dung giữa nghiệp vụ phát sinh từ hai loại nguồn vốn đối nghịch lẫn nhau - nghiệp vụ có và nghiệp vụ nợ. Ví dụ, ngân hàng huy động vốn với thời hạn ngắn và sử dụng nguồn vốn đó để cho vay với thời hạn dài hơn sẽ làm cho tính thanh khoản của ngân hàng bị đe dọa.
Nguyên tắc hoạt động trong phạm vi nguồn vốn thực có là nguyên tắc cơ bản nhất trong hoạt động của ngân hàng; nó buộc các ngân hàng phải có tư duy, kế hoạch và định hướng về hoạt động ; nâng 9 cao sự quan tâm của ngân hàng trong việc huy động vốn, đẩy mạnh sự cạnh tranh để thu hút nguồn vốn. Cuộc chạy đua vì nguồn vốn sẽ kích thích các ngân hàng tìm kiếm các biện pháp hiệu quả hon, hữu hiệu hơn để đầu tư nguồn vốn huy động. Như vậy, sẽ có sự dịch chuyển nguồn vốn vào những ngành hoạt động hiệu quả hơn, phát triển ổn định và có khả năng sinh lời cao hơn. Nguyên tắc thứ hai không kém phần quan trọng mà ngân hàng thương mại phải tuân thủ - đó là tính tự chủ kinh tế của ngân hàng thương mại- ữách nhiệm kinh tế đối với kết quả hoạt động kinh doanh của mình.