CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, ý nghĩa của phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm về hiệu quả, hiệu quả kinh doanh 1. Khái niệm về hiệu quả Theo Phan Thị Minh Châu và cộng sự, 2009, trang 14 và 15, “Hiệu quả đo lường về sự thích hợp của các mục tiêu được chọn (đó có phải là những mục tiêu đúng không?) và mức độ chúng được thực hiện.
Như vậy, hiệu quả trước hết cần hiểu chính là làm đúng việc. Đây là vấn đề rất quan trọng, bởi vì làm đúng việc (xác định và thực hiện việc đúng) sẽ đưa tổ chức đi đúng hướng. Hay nói cách khác, các tổ chức sẽ đạt được hiệu quả hơn khi các nhà quản trị chọn được mục tiêu đúng và hoàn thành chúng. Từ đây, ta có khái niệm hiệu quả: hiệu quả chính là phép so sánh giữa kết quả đạt được với mục tiêu đúng đắn đã đặt ra.” Kết qủa đạt được Hiệu qủa = Mục tiêu Hiệu quả gắn liền với mục tiêu của doanh nghiệp, dựa trên mục tiêu đã đặt ra và kết quả thực tế đạt được để nhận định doanh nghiệp đang hoạt động có hiệu quả hay không, từ đó đưa ra những chiến lược, chính sách cho hoạt động kinh doanh trong tương lai.
Khái niệm về hiệu quả kinh doanh Có nhiều khái niệm khác nhau về hiệu quả kinh doanh, hiểu một cách tổng hợp nhất thì hiệu quả kinh doanh là tỷ lệ giữa kết quả kinh doanh thực tế đạt được với mục tiêu kinh doanh đã đề ra (Võ Thị Tuyết, 2010). Xuất phát từ khái niệm đó, hiệu quả kinh doanh có thể đo lường bằng hai chỉ tiêu chính dùng để xác định hiệu quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, đó là doanh thu và chi phí. Nghĩa là: Hiệu quả kinh doanh = Doanh thu thực tế/ Doanh thu mục tiêu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Hoặc Hiệu quả kinh doanh= Chi phí kinh doanh thực tế/ Chi phí kinh doanh phải đạt. Ở công thức trên cần phải hiểu chi phí kinh doanh là chi phí xác định trong quản trị chi phí kinh doanh (kế toán quản trị) của doanh nghiệp.
Chi phí kinh doanh không phải là chi phí tài chính (chi phí được xác định trong kế toán tài chính). Chi phí kinh doanh phải đạt là chi phí kinh doanh chi ra trong điều kiện thuận lợi nhất. Công thức này được sử dụng rất nhiều trong phân tích, đánh giá tính hiệu quả của toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và từng bộ phận kinh doanh nói riêng. Do có nhiều quan niệm khác nhau về công thức tính định nghĩa hiệu quả kinh tế nên ở phương diện lý thuyết cũng như thực tế cũng có thể có nhiều cách biểu hiện cụ thể khác nhau, có thể sử dụng hai công thức trên để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Khái niệm về phân tích hiệu quả kinh doanh Phân tích hoạt động kinh doanh mang nhiều tính chất khác nhau và phụ thuộc vào đối tượng cũng như giải pháp quản lý mà mỗi công ty áp dụng. Phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu, để đánh giá toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh, nhằm làm rõ chất lượng hoạt động kinh doanh và các nguồn tiềm năng cần được khai thác, trên cơ sở để đề ra các phương án và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp. Phân tích là một hoạt động thực tiễn, vì phân tích hoạt động kinh doanh luôn đi trước quyết định và là cơ sở cho việc ra các quyết định kinh doanh. Phân tích hoạt động kinh doanh như là một ngành khoa học, nó nghiên cứu các phương pháp phân tích có hệ thống và tìm ra những giải pháp áp dụng chung ở mỗi doanh nghiệp.
Như vậy phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nhận thức và cải tạo hoạt động kinh doanh một cách tự giác và có ý thức, phù hợp với điều kiện cụ thể và với yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan, nhằm đem lại hiệu quả kinh doanh cao hơn cho doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Ý nghĩa phân tích hiệu quả kinh doanh - Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ để phát hiện những khả năng tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh, hơn nữa còn là công cụ cải tiến cơ chế quản lý trong kinh doanh. Bất kỳ hoạt động kinh doanh trong các điều kiện hoạt động khác nhau như thế nào đi nữa, cũng còn những tiềm ẩn, khả năng tiềm tàng chưa được phát hiện, chỉ thông qua phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mới có thể phát hiện được, và khai thác chúng để mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.
Thông qua phân tích hoạt động kinh doanh mới thấy rõ nguyên nhân cùng nguồn gốc của các vấn đề còn tồn tại và có giải pháp cụ thể để cải tiến quản lý. - Phân tích hoạt động kinh doanh cho phép các nhà quản lý doanh nghiệp nhìn nhận đúng đắn về khả năng, thế mạnh cũng như những hạn chế trong doanh nghiệp mình. Chính trên cơ sở này doanh nghiệp sẽ xác định đúng đắn mục tiêu cùng các chiến lược kinh doanh có hiệu quả. - Phân tích hoạt động kinh doanh là cơ sở quan trọng để ra các quyết định kinh doanh.
- Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ quan trọng trong những chức năng quản trị có hiệu quả ở doanh nghiệp. Phân tích là quá trình nhận thức hiệu quả hoạt động kinh doanh, là cơ sở cho việc ra các quyết định đúng đắn trong chức năng quản lý, nhất là các chức năng kiểm tra, đánh giá và điều hành hoạt động kinh doanh để đạt các mục tiêu kinh doanh. - Phân tích hoạt động kinh doanh thường xuyên là biện pháp quan trọng để phòng ngừa rủi ro. Để kinh doanh đạt hiệu quả mong muốn, hạn chế rủi ro xảy ra, doanh nghiệp cần tiến hành thường xuyên phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời dự đoán các điều kiện kinh doanh trong thời gian tới để vạch ra chiến lược kinh doanh cho phù hợp.
Ngoài việc phân tích các điều kiện bên trong doanh nghiệp về tài chính, lao động, vật tư… doanh nghiệp còn phải quan tâm phân tích TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 các điều kiện tác động ở bên ngoài như thị trường, khách hàng, đối thủy cạnh tranh … trên cơ sở phân tích trên, doanh nghiệp dự đoán các rủi ro có thể xảy ra và có kế hoạch phòng ngừa trước khi xảy ra. - Tài liệu phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ cần thiết cho các nhà quản trò ở bên trong doanh nghiệp mà còn cần thiết cho các đối tượng bên ngoài khác, khi họ có mối quan hệ về nguồn lời với doanh nghiệp, vì thông qua phân tích họ mới có thể có quyết định đúng đắn trong việc hợp tác đầu tư, cho vay … với doanh nghiệp, đặc biệt những doanh nghiệp đang hoặc sẽ niêm yết trên thị trường chứng khoán. Nội dung của phân tích hoạt động kinh doanh: Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ cung cấp thông tin để điều hành hoạt động kinh doanh cho các nhà quản trò doanh nghiệp (và đồng thời cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng bên ngoài khác nữa). Những thông tin này thường không có sẵn trong các báo cáo kế toán tài chính hoặc trong bất cứ tài liệu nào ở doanh nghiệp.
Để có những thông tin này người ta phải thông qua quá trình phân tích. Nội dung của phân tích hoạt động kinh doanh là đánh giá quá trình hướng đến kết quả hoạt động kinh doanh, với sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng và được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế. Phân tích là đánh giá quá trình hướng đến kết quả hoạt động kinh doanh, kết quả hoạt động kinh doanh có thể là kết quả kinh doanh đã đạt được hoặc kết quả của các mục tiêu trong tương lai cần phải đạt được, và như vậy kết quả hoạt động kinh doanh thuộc đối tượng phân tích. Kết quả hoạt động kinh doanh phải là kết quả riêng biệt trong từng thời gian nhất định, không thể là kết quả chung chung.
Các kết quả hoạt động kinh doanh, nhất là hoạt động theo cơ chế thị trường cần phải định hướng theo mục tiêu dự tốn. Quá trình định hướng hoạt động kinh doanh được định lượng cụ thể thành các chỉ tiêu kinh tế và phân tích cần hướng đến các kết quả của các chỉ tiêu để đánh giá. Ví dụ: nghiên cứu chỉ tiêu doanh thu tiêu thụ sản phẩm của toàn bộ doanh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 nghiệp hay của một bộ phận doanh nghiệp, tiêu thụ năm qua hay kế hoạch dự tốn năm tới, tiêu thụ của một loại sản phẩm hay bao gồm nhiều loại sản phẩm. Hoặc nói đến lời tức, là lợi tức trước khi trước thuế hay sau khi trước thuế, lợi tức của tất cả các mặt hoạt động hay chỉ là hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp.
Phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ dừng lại ở đánh giá biến động của kết quả kinh doanh thông qua các chỉ tiêu kinh tế, mà còn đi sâu xem xét các nhân tố ảnh hưởng tác động đến sự biến động của các chỉ tiêu. Nhân tố là những yếu tố tác động đến chỉ tiêu, tùy theo mức độ biểu hiện và mối quan hệ với các chỉ tiêu, mà nhân tố tác động theo chiều hướng thuận hoặc nghịch đến chỉ tiêu phân tích. Ví dụ: Giá trị sản lượng = Tổng số giờ x giá trị sản lượng/giờ Chỉ tiêu giá trị tổng sản lượng có 2 nhân tố tác động là tổng số giờ và giá trị sản lượng 1giờ, cả hai nhân tố cùng tác động thuận chiều với chỉ tiêu, có nghĩa là các nhân tố tăng sẽ làm chỉ tiêu tăng và ngược lại. Ví dụ : Tổng chi phí vật liệu sản xuất Số lượng sản phẩm sản xuất = Mức tiêu hao vật liệu/1 sản phẩm Nhân tố mức tiêu hao vật liệu tác động nghịch chiều với chỉ tiêu số lượng sản phẩm, vì mức tiêu hao tăng làm cho số lượng sản phẩm giảm và ngược lại.
Như vậy phân tích các nhân tố phụ thuộc vào mối quan hệ cụ thể của nhân tố với chỉ tiêu phân tích. Chỉ tiêu và các nhân tố có thể chuyển hóa cho nhau tùy theo mục tiêu của phân tích. Quá trình phân tích hoạt động kinh doanh cần định lượng tất cả các chỉ tiêu là biểu hiện kết quả hoạt động kinh doanh (đối tượng của phân tích) và các nhân tố ở những trị số xác định cùng với độ biến động xác định.