CHƯƠNG 1 HUY ĐỘNG VÓN VÀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI • 1.1 CÁC HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm và vai trò của Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế thị trường Lích su hình thanh va phát triên của ngân hàng găn liên với lịch sử phát triên của nên sản xuât hàng hóa. Trải qua hàng trăm năm đến nay, hoạt động của cac NHTM đa trơ thanh một yêu tô không thê thiêu găn liền với nền kinh tế của mọi quốc gia trên thế giới. Ngan hang la mọt san phâm độc đáo của nên sản xuât hàng hóa, một động lực quan trọng cho sự phát triển của nền sản xuất xã hội. Với vai trò đó ngân hàng không thể đứng ngoài hoạt động của bất cứ quốc gia nào.
Vì vậy, mỗi nước đều xây dựng những khung pháp lý quy định, giới hạn hoạt động của ngân hàng. Moi nuoc kliac nhau sẽ có một khái niệm và mô hình tô chức ngân hàng khác nhau. Thông thường, người ta phải dựa vào tính chất và mục đích, đối tượng hoạt động của nó trên thị trường tài chính. Trong điều 1 Luật Ngân hàng Pháp (ngày 13/06/1941) có ghi: “Ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền của cong cnung dươi hình thức kí thác hay dưới hình thức khác và sử dụng tài nguyên đo cho chính họ, trong các nghiệp vụ chiêt khấu và làm phương tiện thanh toán”.
Theo pháp lệnh ngân hàng, họp tác xã tín dụng và công ty tài chính ngày 24/05/1990 (điêu 1, khoản 1) của Việt Nam: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của 5 khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. NHTM ra đời do yêu cầu của sự phát triển của nền kinh tế: Cơ sở nền sản xuât và lưu thông hàng hóa, và nên kinh tế ngày càng phát triển càng cần đến hoạt động của các NHTM. Thông qua việc thực hiện các chức năng vai trò của mình, nhất là chức năng trung gian tín dụng NHTM đã trở thành một bộ phận thúc đây nên kinh tế phát triển. Sự đóng góp này được thể hiện như sau: - Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế: với sự hoạt động đứng ra huy động các nguôn vôn tạm thời nhàn rôi ỏ' mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phân kinh tế (Vổn tạm thời nhàn rỗi được giải phóng từ quá trình sản xuất từ nguồn tiết kiệm của dân cư.) thông qua nghiệp vụ tín dụng NHTM đã cung cấp vốn cho nền kinh tế, đáp ứng đầy đủ kịp thời cho quá trình sản xuất.
Chính nhờ hoạt động của hệ thống NHTM, đặc biệt là hệ thống tín dụng, các doanh nghiệp có điêu kiện cải thiện hoạt động kinh doanh của mình, góp phần nâng cao hiệu quả của cả nền kinh tế. Vì vậy, chúng ta có thể khẳng định chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vổn cho hoạt động sản xuất kinh doanh chính là NHTM. - NHTM là công cụ đê Nhà nước điều tiết vĩ mô trong nền kinh tế: trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, hoạt động của NHTM nếu có hiệu quả sẽ thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM trong hệ thống các NHTM đã góp phần mở rộng hay thu hẹp lượng tiền trong lưu thông.
Hơn nữa, bằng việc cấp các khoản tín dụng cho nền kinh tế, NHTM thực hiện việc dân dăt các luồng tiền, tập hợp, phân chia nguồn vốn điều tiết vĩ mô đúng theo phương châm “Nhà nước điều tiết ngân hàng dẫn dắt thị trường”.2 Các hoạt động CO’ bản của Ngân hàng Thu’O'ng mại Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa, cung cấp vốn cho nên kinh tê. Với sự phát triên kinh tế và công nghệ hiện nay, hoạt động ngân 6 hàng đã có những bước tiến rất nhanh, đa dạng và phong phú hơn, song ngân hàng vẫn duy trì các nghiệp vụ cơ bản sau: 1.1 Nghiệp vụ huy động vốn Đây là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng nhất, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng, v ố n được ngân hàng huy động dưới nhiều hình thức khác nhau như: Gửi tiên, đi vay, phát hành giất tờ có giá.Mặt khác trên cơ sở nguồn vôn huy động được, ngân hàng tiến hành cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triền sản xuât cho các mục tiêu phát triên kinh tế của địa phương và cả nước. Nghiệp vụ huy động vôn của ngân hàng ngày càng mở rộng, tạo uy tín của ngân hàng ngày càng cao, các ngân hàng chủ động trong hoạt động kinh doanh, mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế và các tổ chức dân cư, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Do đó các NHTM phải căn cứ vào chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước, của địa phương, từ đó đưa ra các loại hình huy động vốn phù họp.
Khái niệm vốn trong NHTM Vôn chủ sở hữu đó là nguồn tiền được đóng góp bởi nhũng người chủ ngân hàng, bao gồm chủ yếu là cổ phiếu, các khoản dự trữ và lợi nhuận không chia. Vôn chủ sở hữu bao gôm: vốn tự có và vốn coi như vốn tự có. - Vôn tự có gồm vốn điều lệ và quỹ dự trữ. Vôn điều lệ là khoản vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, được hình thành ngay từ khi NHTM được thành lập.
v ố n điều lệ có thể do nhà nước cấp, nếu đó là NHTM quốc doanh, có thể là vốn đóng góp của cổ đông nếu là NHTM cổ phần. Vốn điều lệ sử dụng vào mục đích mua sắm tài sản, trang thiết bị ban đầu cần thiết cho hoạt động ngân hàng. Quỹ dự trữ: Quỳ dự trữ được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm của ngân hàng, thường là quỹ dự trữ bô sung vốn điều lệ và quỹ dự trữ để bù đắp rủi ro. 7 Viẹc hình thanh các quỳ này nhăm tăng vôn tự có của ngân hàng, đồng thời đảm bảo an toàn trong kinh doanh.
- Vốn coi như vốn tự có: Bao gồm các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của ngân hàng, đây là những khoản vốn đã được phân bổ cho những mục đích chi tiêu nhất định, nhưng tạm thơi chua sư dụng như: lợi nhuận chờ phân bô, tiền lương chưa đến hạn thanh toán, các quỹ chuyên dùng chưa sử dụng đến. Von huy động là những giá trị tiên tệ do ngân hàng huy động được từ các tô chức kinh tê và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ. v ố n huy động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của NHTM no đong vai tro rat quan trọng trong mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng b. Khải niệm huy động vốn Huy động vôn là một hoạt động của NHTM nhằm thu hút tiền gửi tiền vay trên thị trường 1 (các tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế xã hội, cá nhân hộ gia đình.) và thị trường 2 (các tổ chức tín dụng) bằng các hình thức tiền gửi giao dịch, tiên gửi tiêt kiệm, phát hành các giấy tờ có giá.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn Đay la nghiẹp vụ trực tiêp mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, nghiệp vụ sử dụng vôn của ngân hàng có hiệu quả sẽ nâng cao uy tín của ngân hàng quyết đinh nang lục cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường.
Do vậy ngân hàng cần phải nghiên cứu và đưa ra chiến lược sử dụng vốn của mình sao cho hợp lý nhất. Một là, ngân hàng tiến hành cho vay: Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của NHTM. Theo thống kê nhìn chung thi khoang 60 -75% thu nhập của ngân hàng là từ các hoạt động cho vay. Thanh cong hay thât bại của một ngân hàng tùy thuộc chủ yếu vào việc thực hiện kế hoạch tín dụng và thành công của tín dụng xuất phát từ chính sách cho 8 vay của ngân hàng.
Các loại cho vay có thể phân loại bằng nhiều cách, bao gồm: Mục đích, hình thức bảo đảm, kì hạn, nguồn gốc và phương pháp hoàn trả. Hai là, tiến hành đần tư: Đi đôi với sự phát triên của xã hội là sự xuất hiện của hàng loạt những nhu câu khác nhau. Với tư cách là một chủ thể hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, đòi hỏi Ngân hàng phải luôn năm băt được thông tin, đa dạng các nghiệp vụ để cung câp đây đủ kịp thời nguồn vốn cho nền kinh tế. Ngoài hình thức phổ biến là cho vay> ngân hàng còn sử dụng vôn đê đầu tư.
Có 2 hình thức chủ yếu mà các NHTM có thể tiến hành là: - Đâu tư vào mua bán kinh doanh các chứng khoán hoặc đầu tư góp vốn vào các doanh nghiệp, các công ty. - Đâu tư vào trang thiêt bị TSCĐ phục vụ cho hoạt động kinh doanh ngân hàng. Ba là, nghiệp vụ ngân quỹ: Lợi nhuận luôn là mục tiêu cuối cùng mà các chủ thể khi tham gia tiến hành sản xuât kinh doanh. Tuy nhiên, đằng sau mục tiêu quan trọng đó là hàng loạt các nhân tố cần quan tâm.
Một trong những nhân tố đó là tính an toàn. Ngân hàng là một nghê kinh doanh đầy mạo hiểm, trong hoạt động của mình ngân hàng không thể bỏ qua sự an toàn. Vì vậy, ngoài việc cho vay và đầu tư để thu được lợi nhuận, ngân hàng còn phải sử dụng một phần nguồn vốn huy động được đê đảm bảo an toàn vê khả năng thanh toán và thực hiện các quy định về dự trữ bắt buộc do Ngân hàng trung ương (NHTW) đề ra.3 Nghiệp vụ khác Là trung gian tài chính, ngân hàng có rất nhiều lợi thế. Một trong nhũng lợi thế đó là ngân hàng thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ.
Đe thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiêu hình thức thanh toán như thanh toán bằng see, 9 ủy nhiệm thu chi, các loại thẻ.cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền mặt khi khách hàng cần. Mặt khác, các NHTM còn tiến hành môi giới, mua bán chứng khoán cho khách hàng và làm đại lý phát hành chúng khoán cho các công ty. Ngoài ra ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ ủy thác như : ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư, ủy thác cấp phát. Như vậy, các nghiệp vụ trên nếu thực hiện tốt, sẽ đảm bảo cho ngân hàng tôn tại và phát triển vững mạnh trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay.