phần mở đầu, hoạt động tín dụng cho vay là hoạt động chính trong hoạt động tín dụng, đối với các NHTM trên địa bàn tỉnh An Giang nói 18 chung và CN.AG nói riêng thì hoạt động cho vay chi phối gần hết hoạt động tín dụng của ngân hàng. Do đó, toàn bộ phần nghiên cứu hoạt động tín dụng của ngân hàng chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động cho vay, vì vậy xuyên suốt phần trình bày sau này của luận án hoạt động tín dụng được hiểu là hoạt động cho vay của các cho vay NHTM trên địa bàn tỉnh An Giang nói chung cũng như là của CN.2- Một số vấn đề về chất lượng tín dụng. Theo Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 (có hiệu lực ngày 17/03/2005) của Thống đốc NHNN VN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 quy định lại cách phân loại nợ quá hạn như sau: Toàn bộ số dư nợ gốc của khách hàng có khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ vay được coi là nợ quá hạn. Trong đó điều chỉnh kỳ hạn nợ là việc ngân hàng chấp thuận thay đổi kỳ hạn trả nợ gốc và/hoặc lãi vay trong phạm vi thời hạn cho vay đã thoả thuận tại HĐTD; gia hạn nợ vay là việc ngân hàng chấp thuận kéo dài thêm một khoảng thời gian trả nợ gốc và/hoặc lãi vay vượt quá thời hạn cho vay đã thoả thuận trong HĐTD và chất lượng tín dụng được thể hiện là tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ.
Việc phân loại nợ quá hạn theo Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN đã có nhiều thay đổi nhưng việc phân loại nợ quá hạn vẫn còn dựa vào tiêu chí thời gian quá hạn của khoản vay chứ chưa tính đến tiêu chí rủi ro của khoản vay nên chưa phản ảnh chính xác chất lượng của hoạt động tín dụng. Theo Quyết định mới được ban hành số: 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam “V/v Ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng” thì dư nợ của các tổ chức tín dụng được chia làm 05 nhóm, cụ thể: 19 Nợ nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: - Các khoản nợ trong hạn, có khả năng thu hồi đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn; Các khoản nợ của khách hàng trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo kỳ hạn đã được cơ cấu lại tối thiểu trong vòng 01 năm đối với các khoản nợ trung và dài hạn, 03 tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn và các kỳ hạn tiếp theo được đánh giá là có khả năng trả đầy đủ nợ gốc, lãi đúng hạn theo thời hạn đã được cơ cấu lại thì phân loại vào nợ nhóm 1. Trường hợp một khách hàng có nợ cơ cấu lại bao gồm nợ ngắn hạn và nợ trung, dài hạn thì chỉ xem xét đưa vào nợ nhóm 1 khi khách hàng đã trả đầy đủ (nợ ngắn hạn và nợ trung, dài hạn) cả gốc và lãi số nợ đã được cơ cấu lại trong thời gian quy định trên, đồng thời các kỳ hạn tiếp theo được đánh giá là có khả năng trả đầy đủ nợ gốc, lãi đúng hạn đã được cơ cấu lại. Nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn trả nợ đã cơ cấu lại được đánh giá là có khả năng trả nợ đầy đủ, đúng hạn.
Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: - Các khoản nợ qúa hạn từ 90 ngày đến 180 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại có thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại. Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: - Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày. Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; Các khoản nợ chờ xử lý; Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại. Các khoản nợ nếu có đủ cơ sở để đánh giá là khả năng trả nợ của của khách hàng bị suy giảm thì phải phải tính một cách chính xác, minh bạch để phân loại nợ vào các nhóm nợ phù hợp với mức độ rủi ro, cụ thể: - Nhóm 2: Các khoản nợ tổn thất tối đa 5% giá trị nợ gốc.
20 - Nhóm 3: Các khoản nợ tổn thất từ trên 5%-20 % giá trị nợ gốc. - Nhóm 4: Các khoản nợ tổn thất từ trên 20% - 50% giá trị nợ gốc. - Nhóm 5: Các khoản nợ tổn thất trên 50% giá trị nợ gốc. Việc phân loại nợ theo Quyết định 493 của Ngân hàng Nhà nước vừa dựa vào tiêu chí thời gian quá hạn của khoản vay, vừa dựa vào tiêu chí rủi ro của khoản vay đã làm cho các Ngân hàng phải đánh giá lại thực sự các khoản nợ đã cho khách hàng vay và có thể đánh giá chính xác hơn về chất lượng tín dụng của mình.3 - Chỉ tiêu biểu hiện chất lượng tín dụng.1- Đối với Ngân hàng Thương Mại: * Khái niệm nợ quá hạn: Nợ quá hạn là phần nợ gốc, 1 phần nợ gốc hoặc cả gốc và lãi đều quá hạn trả theo thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng đã thoả thuận trên hợp đồng tín dụng.
* Khái niệm nợ xấu: Nếu chỉ dựa vào chỉ tiêu nợ quá hạn thì chưa đánh giá chính xác về chất lượng tín dụng của các ngân hàng. Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống Đốc NHNN.VN “V/v Ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD” đã đánh giá chính xác hơn chất lượng tín dụng của các TCTD. Theo Quyết định 493 thì dư nợ của các TCTD được chia làm 05 nhóm, nợ xấu là nợ thuộc nhóm 3,4,5 theo cách phân loại nợ như đã nêu ở trên. *Tỷ lệ nợ xấu: Nợ Xấu Tỷ lệ nợ xấu x 100% ≤ 5% = Tổng dư nợ Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của TCTD.
Tỷ lệ nợ xấu càng cao thì chất lượng tín dụng càng kém và ngược lại. Nếu tỷ lệ nợ xấu ≤ 5% thì chấp nhận được và tỷ lệ này càng nhỏ hơn 5% càng tốt còn tỷ lệ này lớn hơn 5% thì được coi là tín dụng có vấn đề. 21 * Vòng quay vốn tín dụng: Doanh số thu nợ Vòng quay tín dụng = Dư nợ bình quân Vòng quay vốn tín dụng phản ánh tình hình quan hệ tín dụng của khách hàng vay vốn đối với ngân hàng, qui mô hoạt động của ngân hàng, đóng góp của vốn tín dụng cho nền kinh tế. Vòng quay vốn tín dụng càng lớn chứng tỏ chu chuyển vốn tín dụng nhanh, tình hình hoạt động tín dụng lành mạnh, ngân hàng thu phí được nhiều hơn.2 - Đối với nền kinh tế: Chất lượng tín dụng gắn liền với qúa trình sử dụng vốn tín dụng của nền kinh tế nói chung và của các doanh nghiệp nói riêng.
Vốn tín dụng đầu tư cho nền kinh tế đạt chất lượng tức là góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần ổn định đời sống xã hội. * Đối với doanh nghiệp vay vốn: Doanh nghiệp sử dụng vốn vay có hiệu quả tạo ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, trả nợ gốc và lãi đúng hạn. * Đối với nền kinh tế: Nền kinh tế phát triển, sản xuất, lưu thông hàng hoá phát triển, vốn lưu thông trong nền kinh tế góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo nhiều công ăn việc làm cho xã hội.4 - Mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với chất lượng tín dụng và hiệu quả hoạt động tín dụng. Tăng trưởng tín dụng thông thường được hiểu là sự gia tăng về mặt lượng của tín dụng như dư nợ cho vay trong một thời kỳ nhất định.
Tăng trưởng tín dụng với chất lượng tín dụng và hiệu quả hoạt động tín dụng (lợi nhuận đem lại từ hoạt động tín dụng) có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau tuân thủ theo quy luật lượng chất, nói cách khác trong một hoàn cảnh kinh tế - xã hội cụ thể để đảm bảo hoạt động tín dụng đạt chất lượng và hiệu quả 22 như mong muốn thì phải duy trì mức tăng trưởng tín dụng không vượt quá một giới hạn nào đó, nếu tăng trưởng tín dụng vượt quá ngưỡng này sẽ làm giảm chất lượng dẫn đến hiệu quả hoạt động tín dụng kém.5- Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng: Hiệu quả hoạt động tín dụng thường được đánh giá ở ba góc độ: đối với ngân hàng, đối với nền kinh tế và đối với người đi vay. - Đối với ngân hàng: Hiện nay nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ tạo nguồn thu lớn nhất trong hoạt động chung của các ngân hàng, vì vậy nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng góp phần làm tăng thêm lợi nhuận của ngân hàng, hoạt động ngân hàng ngày càng phát triển hơn đồng thời cũng làm tăng thêm thu nhập của cán bộ nhân viên. - Đối với nền kinh tế: Hiện nay nhu cầu vốn của nền kinh tế để phát triển sản xuất, kinh doanh … ngày càng nhiều hơn. Ngoài kênh huy động vốn để đáp ứng nhu cầu này như thị trường chứng khoán, các quỹ đầu tư, các quỹ hỗ trợ… thì nguồn vốn tín dụng của ngân hàng được xem là nguồn vốn chủ yếu và không thể thiếu.
Cấp tín dụng góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Hiệu quả của hoạt động tín dụng ngân hàng có quan hệ trực tiếp đến chất lượng tăng trưởng kinh tế. Nói đến chất lượng tăng trưởng kinh tế là nói đến mức độ đạt được của các mục tiêu kinh tế - xã hội như: tốc độ tăng trưởng GDP, thu nhập bình quân đầu người, tình hình thu- chi ngân sách, tốc độ tăng trưởng huy động vốn, tốc độ tăng trưởng tín dụng, chất lượng đầu tư tín dụng, chỉ số lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp. Chất lượng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó các yếu tố từ hoạt động tín dụng ngân hàng có vai trò rất lớn.
Khi đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế, người ta thường đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chỉ số lạm phát.