Mở đầu về 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu Triết học Tự nhiên của J.Mill đã thấy đƣợc con đƣờng rõ ràng để thành lập các phƣơng pháp nghiên cứu khoa học và sáp nhập lôgíc mới vào lôgíc cũ nhƣ một sự bổ sung. Tác phẩm nổi tiếng Hệ thống Lôgíc, gồm hai tập, đƣợc ông xuất bản năm 1843. Cuốn sách là sự nỗ lực xây dựng một hệ thống lôgíc cho các khoa học nhân văn dựa trên sự giải thích nhân quả, nó bao quát cả Lịch sử, Tâm lý học, và Xã hội học. Năm 1844, ông xuất bản tác phẩm Bàn về những vấn đề phức tạp của Kinh tế chính trị, một số bài luận trong đó là những lời giải cho các bài toán chuyên môn rắc rối, nhƣ sự phân chia lợi ích của thƣơng mại quốc tế, ảnh hƣởng của tiêu dùng đối với sản xuất, việc định nghĩa lao động năng suất và không năng suất, các mối liên hệ chính xác giữa lợi nhuận và tiền công.Mill tỏ ra là một ngƣời kế tục xuất sắc David Ricardo, đƣa ra những nhận định chính xác hơn và rút ra những hệ quả sâu sắc hơn.
Tác phẩm Những Nguyên lý của Kinh tế chính trị đƣợc ông xuất bản năm 1848. Cũng vào thời gian đó, J.Mill đang ủng hộ việc xây dựng hình thức sở hữu nông dân, một giải pháp cho sự nghèo đói và bất ổn ở Ireland. Sau đó, ông thực hiện một nghiên cứu kỹ lƣỡng hơn về các nhà văn xã hội chủ nghĩa.Mill tin rằng, vấn đề xã hội cũng quan trọng nhƣ vấn đề chính trị. Ông đã phân tích các vấn đề của sản xuất và phân phối.
Mill không chấp nhận một hình thức phân phối cứ thƣờng xuyên đẩy các tầng lớp lao động vào một cuộc sống khốn khó, thậm chí là đói kém.Mill không đi đến một giải pháp xã hội chủ nghĩa, nhƣng ông đã có những phân tích xuất sắc đối với việc xây dựng lại một xã hội tốt đẹp hơn. Năm 1852 ông kết hôn với bà Hariet Taylor. Trong suốt bảy năm sau khi lập gia đình, J.Mill bị cuốn vào công việc của công ty Đông Ấn, và đây là thời kỳ mà ông xuất bản ít tác phẩm nhất. Năm 1858, công ty bị giải thể, J.Mill đƣợc mời vào trong hội đồng mới nhƣng ông đã từ chối và về nghỉ với số tiền hƣu 1500 bảng.
Sau khi vợ mất, ông dành phần lớn quãng đời còn lại ở Saint-Véran, gần Avignon, Pháp. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Mill đã đi tìm sự khuây khỏa bằng việc xuất bản một loạt sách về Đạo đức học và Triết học, đó là sản phẩm của sự suy ngẫm lâu dài và một phần đƣợc viết với sự cộng tác của ngƣời vợ. Các tác phẩm nổi tiếng nhƣ Bàn về tự do và Những suy nghĩ về cải cách Nghị viện đều đƣợc xuất bản năm 1859. Trong tác phẩm Chính thể Đại diện (1861), ông đã hệ thống hóa các quan điểm đƣợc trình bày trong nhiều bài báo và tiểu luận.
Thuyết vị lợi của J.Mill là một cố gắng để trả lời những quan điểm chống lại lý thuyết đạo đức của ông và cũng để loại bỏ những sự hiểu sai về nó. Sau khi nghỉ hƣu, ông về sống trong một ngôi nhà vùng thôn dã ở Avignon thuộc miền nam nƣớc Pháp, là nơi chôn cất vợ ông.Mill luôn tìm thấy niềm vui trong lao động và cũng luôn nhiệt tình quan tâm đến các vấn đề của xã hội.Mill là một trong những ngƣời sáng lập tổ chức giành quyền bầu cử đầu tiên của phụ nữ, năm 1869, ông xuất bản tác phẩm Sự khuất phục của Phụ nữ (viết năm 1861), một tuyên ngôn kinh điển về quyền bầu cử của phụ nữ. Hoạt động xã hội cuối cùng của ông liên quan đến sự ra đời của Tổ chức Cải cách Sở hữu Đất đai.Mill đã qua đời ở Avignon ngày 8/5/1873. Một tƣợng đồng đúc chân dung ông đƣợc dựng lên trên đƣờng đê sông Thames ở London.
Bối cảnh, tiền đề ra đời và tƣ tƣởng cơ bản của triết học Jonh Stuart Mill 1. Bối cảnh và tiền đề ra đời triết học của Jonh Stuart Mill Thế kỷ XV k inh tế hàng hóa ở Tây Âu đã phát triể n , nhu cầ u về thi ̣ trƣờng và hàng hóa tăng cao ; điề u này đã trở thành đô ̣ng lƣ̣c phát triể n sản xuấ t , tìm kiếm và mở rộng thị trƣờng. Do yêu cầu phát triển của sản xuất xã hội, các ngành khoa học tự nhiên đã có cơ hội để phát triển mạnh mẽ, cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện đáp ứng về nhu cầu sản xuất, tiêu biể u là cuô ̣c cách ma ̣ng công nghiê ̣p ở Anh với nhƣ̃ng thành tƣ̣u nhƣ : phát minh ra thoi bay của John Kay năm 1733, phát minh ra máy hơi nƣớc của James Watt năm 1784, phát minh ra lò cao luyện gang lỏng thành thép của 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Henry Bessemer năm 1785, viê ̣c chế ta ̣o ra đầ u máy xe lƣ̉a cha ̣y bằ ng hơi nƣớc năm 1804, tầ u thủy cha ̣y bằ ng hơi nƣớc năm 1807 của Robert Fulton… Nhƣ̃ng phát minh khoa ho ̣c kỹ t huâ ̣t đƣơ ̣c ƣ́ng du ̣ng trong sản xuấ t đã làm cho lƣ̣c lƣơ ̣ng sản xuấ t không ngừng phát triển. Phƣơng thức sản xuất tƣ bản đã nhanh chóng thay thế cho phƣơng thức sản xuất Phong kiến lạc hậu.
Chế độ tƣ bản ra đời là bƣớc tiến khổng lồ so với chế độ phong kiến gia trƣởng. Cuô ̣c cách ma ̣ng tƣ sản đã ta ̣o điề u kiê ̣n giải phóng con ngƣời khỏi nhƣ̃ng sƣ̣ kiề m chế đô ̣c đoán của chế đô ̣ phong kiế n , tạo ra nhƣ̃ng biế n đổ i ma ̣nh mẽ trên mọi lĩnh vực của xã hội. Nhƣ̃ng giá tri ̣văn hóa tƣ tƣởng thời cổ đa ̣i sau hàng trăm năm bi ̣đè nén bởi tƣ tƣởng duy tâm tôn giáo của nhà thờ nay đƣơ ̣c phu ̣c hƣng và phát triể n. Giai cấp tƣ sản trong quá trình thực hiện cách mạng tƣ sản đã giƣơng cao ngọn cờ “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” và nhanh chóng tập hợp đƣợc đông đảo các tầng lớp xã hội đi theo để chống lại phong kiến.
Với thắng lợi của cách mạng tƣ sản, kinh tế, khoa học kỹ thuật và xã hội đều có bƣớc thay đổi mạnh mẽ. Trên bình diện tƣ tƣởng thời kỳ này cũng có bƣớc chuyển mình lớn, nếu nhƣ trong xã hội phong kiến con ngƣời bị trói buộc vào thần học, bị mất tự do thì bây giờ con ngƣời đã đƣợc giải phóng. Nhƣ̃ng học thuyết về chin ́ h tri ̣, thành tựu về văn học ng hê ̣ thuâ ̣t lầ n lƣơ ̣t xuấ t hiện và đạt đƣợc những thành tựu cho đến nay vẫn còn nhiều giá trị. Biểu hiện sinh động cho sự thay đổi lớn về tƣ tƣởng, triết học thời kỳ này chính là phong trào triết học khai sáng với nhiều đại biểu tiêu biểu nhƣ P.
Kỷ nguyên Khai sáng (Enlightenment) ở châu Âu tuy đã bắt đầu từ cuối thế kỷ XVII, nhƣng phải chừng một thế kỷ sau, khi tác phẩm Trả lời câu hỏi: Khai sáng là gì? (1784) của Imanuel Cantơ (1724 – 1804, nhà triết học cổ điển Đức) ra đời, danh từ này mới trở thành một thuật ngữ có chỗ đứng trong ngôn ngữ triết học và lịch sử tƣ tƣởng. Khai sáng, theo định nghĩa của Cantơ, là sự thoát ra của con ngƣời khỏi tình trạng chƣa trƣởng thành (nonage) do chính con ngƣời tự 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gây nên. Chƣa trƣởng thành vì không có khả năng sử dụng lý trí của mình mà không cần đến sự dẫn dắt của kẻ khác. Sự chƣa trƣởng thành này, nếu chính nguyên nhân không nằm ở sự thiếu lý trí mà ở sự thiếu quyết định và thiếu can đảm trong việc tự sử dụng lý tính của chính mình mà không cần sự dẫn dắt của kẻ khác, thì chính là lỗi do chính mình gây nên.
Bởi vậy, hãy dám biết và hãy can đảm sử dụng lý trí của chính mình là phƣơng châm của khai sáng. Phong trào khai sáng với những luận điểm của nó về căn bản vẫn còn giá trị cho đến hiện tại. Và ở những nơi nào đó trên thế giới, nó vẫn tiếp tục lan tỏa nhằm đánh đổ thần quyền và chủ nghĩa phong kiến mông muội. Một số luận điểm chính của khai sáng đến nay đƣợc chấp nhận, mà hầu nhƣ không cần phải bàn cãi: 1.
Lý tính chính là khả năng trung tâm của con ngƣời, nó không những giúp cho con ngƣời có khả năng suy nghĩ sáng suốt mà còn cả hành động một cách đúng đắn. Niềm tin phải đƣợc đón nhận bằng lý tính, không dựa trên quyền uy và chức sắc, tôn giáo, kinh nghiệm hay truyền thống. Tất cả mọi ngƣời đều có quyền bất khả xâm phạm, tuyệt đối cá nhân, hoàn toàn bình đẳng xét về khía cạnh lý lẽ (so với các cá nhân khác hay nhà nƣớc) và do đó phải đƣợc tạo cho sự bình đẳng trƣớc luật pháp và quyền tự do cá nhân. Có thể nói rằng một trong nhƣ̃ng giá trị chủ đạo của tƣ tƣởng triết học thời kỳ này là tƣ tƣởng về quyền tự do cá nhân, dân tô ̣c và quốc gia.
Đại biểu tiêu biểu luận giải cho tƣ tƣởng tự do thời kỳ Khai sáng đó là T. Nội dung tƣ tƣởng tự do đƣợc đề cập đến trong thời kỳ này không phải là tự do trong mối quan hệ với cái tất yếu, chịu sự quy định của cái tất yếu, là sự nhận thức và hành động theo cái tất yếu. Ở đây tự do đƣợc đề cập đến với tƣ cách là một quyền công dân trong xã hội dân sự, tự do trong mối quan hệ với quyền uy xã hội, tự do nhƣng gắn với trách nhiệm đối với ngƣời khác, đối với xã hội. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những thành tựu to lớn đạt đƣợc trong thời kỳ Phục hƣng và Khai sáng trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội và tƣ tƣởng nhƣ vậy, đã tạo tiền đề, điều kiện cho Jonh Stuart Mill hình thành những tƣ tƣởng triết học của mình.
Vài nét về tƣ tƣởng triết học của Jonh Stuart Mill John Stuart Mill là nhà triết học và kinh tế ngƣời Anh, một nhà tƣ tƣởng lỗi lạc của thời đại cải cách xã hội thế kỷ XIX. Ông còn là nhà lôgíc tài ba và nhà lý thuyết nổi tiếng về đạo đức học. Tƣ tƣởng của ông đƣợc thể hiện trên nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau nhƣ: lôgíc học, khoa học luận, luật học, kinh tế chính trị học …, và đạt nhiều thành tựu, đƣợc học giới đặc biệt quan tâm và ngƣỡng mộ.