CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE CÔNG TÁC QUAN LÝ CHAT LƯỢNG CONG TRINH THỦY LỢI 1-1 Tổng quan về tình hình phát triển các công trình thủy lợi ở Việt Nam và trên địn bàn tỉnh Nghệ An LLL Tình hình phát trin các công trình thấy lợi ở Việt Nam Nằm ở vũng Đông Nam A chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mia, Việt Nam có lượng mưa và đồng chảy khá phong phú. Lượng mưa bình quân hing năm của sả nước đạt in 2000 mm, Việt Nam có mật độ sông ngòi cao, có 2360 sông với chiều dải từ 10 km trở lên và hầu hết sông ngòi đều chảy ra biển Đông. Tổng lượng dòng chảy bình quân vào khoảng 830 tỷ m”/năm, trong đó có 62% là từ lãnh thé bên ngoài. Phin bổ mưa và đồng chảy trong năm không đều, 75% lượng mưa và đồng chảy tập trùng vào 3 4 thắng mia mưa, Mùa mưa lạ trùng với mùa bảo nên luôn phải đối mật với nhiều thiên ta về nước, đặc Bit là là lụt.
Ngoài ra, Việt Nam là quốc gia có nền nông nghiệp lia nước, din số đông. Tổng diện tich đất nông nghiệp luôn được khai phá mở mang thêm nhưng đến năm 2007 mới chỉ đạt 8,5 triệu ha trong khi dân số là 5, lưiệu người, mức bình quân dầu người chỉ đạt 0,ảha. Nếu tinh riêng điện tch rồng lúa cả nước có 4 triệu ha thì bình quân một nông dân ở nhiều vùng chỉ có 300- -400m2/người. Đây là mức thấp nhất trong khu vực, đồng thời cũng là mức thấp nhất thé giới, Để đảm bảo lương thực cho đắt nước có số dân đông trong điều kiện thiên ti lig từ xa xưa, (6 tiên người Việt đã phải sém xây đựng các công tình khai thác, điều tiết nguồn nước, dẫn nước, sử dụng nước từ nhỏ, thô sơ, tạm bg, thời vụ cho đến ce công rnh có quy mô lớn.
Kế thừa truyễn thống của cha ông, từ sau năm 1954 khi miễn Bắc được giải phóng: Bing, Nhà nước ta đã khôi phục nhanh chóng các hệ thông thủy lợi bị chiến tran tin phá, đây mạnh xây dựng các công trình thủy lợi từ nhỏ đến 3g đại thuỷ nông Bắc Hưng Hãi, các hệ thong trạm bơm ở Bắc Hà Nam, Nam Định, Thái Bình. Năm 1975, sau khi nước nhà thống nhất với sự tăng cường của lực lượng cán bộ khoa học, th miễn Bắc, công việc ‘quy hoạch và xây dung các hệ thống thủy lợi đã nhanh chéng được triển khai mạnh mẽ ở miễn Trung và miễn Nam, tạo ra bước đột phát về phát triển thủy lợi trong phạm vi © Đồng bằng sông Cửu Long do có chủ trương kỹ thuật và bước đi thích hợp để cải tạo cúc ving bị ngập lũ, chua phèn và xâm nhập mặn bằng các hệ thống kênh true, kênh ngang, cổng, đập, bờ bao. Nên đã tạo ra khả năng dé chuyển vụ lúa mùa nỗi năng suất thấp sang 2 vụ lúa đông xuân, hè tha có năng suất cao trên một vùng rộng lớn ở Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, Tây Sông Hậu.Ở miễn Đông Nam. Bộ, miễn Trung, Tây Nguyễn ngoài phát tiễn các ng thủy lợi vừa và nhỏ đã xây dựng nhiều c Wg trình hỗ đập lớn như Dau Tiếng, Kẻ Gỗ, Phú Ninh, Thạch Nham Đá.
Ban, Sông Quao, Yaun, Krong Buk.Ở miền Bắc tiếp tục nâng cấp và làm mới các công trình tưới, tiêu Ging và nâng cắp hệ thống dé điều. ‘Thanh quá chung của công tác thiy lợi đã đưa lại cho đất nước là rất to lớn và đã góp. phần thúc day phát trién nông nghiệp và phòng chống thiên tai có bước phát triển mạnh mẽ, góp phần cẤp nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt, và cải tạo môi trường. Dưới đây là một số kết quả cụ thé: Năm 1945 không ké ở đồng bằng sông Cứu Long, cả nước có 13 hệ hông thủy nô ng tập trung ở các tỉnh rung du, đồng bằng Bắc Bộ, khu Bốn cũ, Duyén hãi miễn Trung, đập Thác Huỗng trên sông Cầu, đập Bái Thượng trên sông Chu, đập Đô Lương trên sông Ci, đập Đồng Cam trên sông Ba.
Tổng năng lực tưới của các công trình đập lớn sảng với 13 hệ thống thay nông nói trên đã đảm bảo tưới cho 324.900 ha, tiêu cho 77. Từ năm 1956 đến năm 2009, cả nước đã xây dựng được trên 500 hồ đập thủy nông loại lớn và vita, rong đó có những đập cao như: Cm Sơn cao 40,5 m chứa 338 triệu m', Kẻ Gỗ cao 40 m chứa 425 triệu m', Phú Ninh cao 38 m chứa 425 mÌ, Cita Đạt cao 118 m chứa 1,5 tỷ mÌ, Dẫu Tiếng cao 30 m chứa 1,45 tỷ m. Tinh đến cuối năm 2009, các hỗ đập cũng các biện pháp công trình thủy lợi khác như trạm bom, sống, kênh đã đảm bảo cho trên 7 triệu ha đất lúa được tưới, trong đó: vụ đông xuân 2.94 triệu ha 1 thu 2,3 triệu ha, vụ mia 2,51 triệu ha. Các công trình thuỷ lợi cũng đã tạo nguồn nước tưới cho 1,15 triệu ha; tiêu ting cho 1,8 triệu ha (trong đó 1,45 triệu ha rung tring); ngăn mặn cho trên 800 nghìn ha ở ĐBSCL; cải tạo chua phèn cho 1,6 triệu ha, Thành quả trên đã góp phần ting sản lượng lúa từ 16 triệu tấn năm 1986 lên 19,2 triệu tấn năm 1990; 24,9 triệu tắn năm 1995; 32,5 triệu tin năm 2000 và 38,7 triệu ấn năm 2008, để đến năm 2009 khối lượng xuất khẩu gạo cia nước ta đã đt 5,8 tắn.
Cùng với lúa, sản xuất ngô, các loại hoa mẫu cây công nại cũng phát triển nhanh chóng g6p phần phát tiển chăn nuôi gia sức và tạo vành đai thục phẩm bn định cho các đô thị. `VỀ công tác để diễu - phòng chống và giảm nhẹ thiên tai: Nằm trong ving nhit đối giô mùa và gn một rong $ trung tim bão lớn nhất của thể giới, hằng năm Việt Nam phải chịu hàng chục con bão lớn, thông thường bão đều kèm theo mưa lớn gây nên những thiệt hại lớn về người, ải sản và sản xuất nông nghiệp. Ở miễn Bắc và khu Bốn cũ để chống bảo lụt, ngăn nước biển dâng từ xa xưa ông cha ta đã dip đề, làm ke nhưng mức đảm bảo không cao. Chỉ riêng năm 1945 hệ thẳng đê sông Hồng đã có 79 đoạn bị vỡ, dé khu 4 cil cũng luôn trong tình trạng không an toàn.
Từ 1956 đến nay, hệ thông để sông luôn được củng cổ. Cùng với các giải pháp điều tiết hỗ chứa khỉ cỏ mia Id và chỉ đạo phòng chống lụt bão kịp thời, đã góp phần bảo vệ dân cư, mùa mang, hạn. chế được nt thiệt hại bởi thiên tai, Ở. ng bằng sông Cửu Long nơi thường xuyên.
bị ngập từ 16 tiệu ha về mia Ia và có đến 700 nghĩn ba bị mặn xâm nhập. Từ sau năm 1975 đã dip hệ thống bờ bao ngăn lũ sớm, hạn chế xâm nhập mặn vả nhiều công trình thoát lũ, hệ thống dé biển cũng từng bước được xây dựng ở nhiều địa phương, nhờ vậy đã bảo vệ được hau hết diện tích gieo trồng lúa hè thu ở vùng lũ và lia đông xuân ở ving trùng không bị là sớm de doa và nước biển xâm nhập. Vécắp nước sinh hoạ, nước công nghiệp và nuôi rồng thủy sin: Cc hệ hắng thủy lợi được xây dựng trong nt năm liên tục được phân bổ rộng khắp trên mọi vùng của đất nước đã góp phần cung cấp nước sinh hoạt cho dân cư xung quanh công nh. nhiều hé còn cấp nước sinh hoạt cho các điểm công nghiệp vả đô thị như hỗ Song Ray (Ba Ria - Vũng Tu), hồ Mỹ Tân (Ninh Thuận), Ha Sơn (Khánh Hòa), cụm hồ Thủy Yên - Thủy Cam (Thừa Thiên Hug), Ngàn Trươi - Cẳm Trang (Hà Tĩnh), Bản Ming (Sơn La), la Keo - Nà Céy (Lạng Son).
Nỗi bật nhất li đã xây dựng được các công trình cắp nước cho 30 vạn đồng bio ving cao đặc biệt là những ving núi đá vôi như ‘Tra Linh, Hà Quảng, Lục Khu (Cao Bằng) Yên Ninh, Quang Ba, Đông Văn, Mèo Vac (1a Giang. nhiễu huyện vùng cao ở Lao Cai, Lai Châu, Som La. Thuỷ lợi cũng cấp nước cho nuôi trồng thủy sản, hing van ha mặt nước của các ao hồ nuôi thủy sản đều <a chủ yéu vio nguồn nước ngot từ các hệ thống thủy lợi: đối với các vàng ven biển, pi lớn ác công tinh thủy lợi đều it niu đóng gop vào việc go rà mỗi trường nước lg, nước mặn dé nuôi tôm và một số loài thủy sản quý hiểm, ạo điều kiện cho việc nuôi rồng thủy sản có bước phi hiển mạnh mẽ đấp ứng nh cầu ny cảng cao của nhân dan trong nước và xuất khẩu. VỀ đồng góp vio xóa đối giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới: Nhiều vùng nông thôn vi Nam, đặc iệLlà vũng siu, ving xa do mộng dit it, tập quần canh tác còn lạc hậu.
dan số tăng nhanh, vì vậy cuộc sống gặp nhiều khó khăn, có nơi còn quá nghèo; các sông trình thủy lợi nhỏ được xây đựng bằng nhiều nguồn vin Khác nhau đã giúp cho nông din có nước để canh tác, gốp phin xóa đói giảm nghéo cho nhiều vùng rất khó khăn. Nhiều công trình đã tạo ra nguồn nước dé trồng trọt và định canh, định cư để xóa đối giảm nghèo và bảo về rừng, han chế được việc đốt nương rẫy, Những công tỉnh kênh mương ở đồng bằng sông Cứu Long thực sự là điểm tựa để làm nhà tinh lũ, phan bé lại din cư và tiến sâu vào khai phá những vùng đất còn hoang hóa. Những sông trinh như 6 trạm bơm ở Bắc Hà Nam, Nam Định thực sự đã xóa đi cảnh * tháng di chân, 6 tháng di tay” của người din địa phương, đẩy lùi được căn bệnh đau mắt hột, bệnh chân voi của người dân nơi diy. VỀ tic động của thủy lợi đối với môi trường: Trong những năm qua, thủy lợi đã góp phần quan trọng vào mở mang tải nguyễn đất và cải tạo mỗi trường dit.
Điều này có thể thấy rit rỡ khi nghiên cứu về lich sử phát triển của các đồng bằng đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long. Tai đây, đã cho thấy thủy lợi đã có những đóng góp quan trọng để mở mang tài nguyên đất dai và cải tạo mỗi trường “Tir một cảnh đồng phủ xa lớn còn hoang sơ cách đây hơn 200 năm, sau khi nha Nguyễn cho đảo các kênh Rạch Ra - Hà Tiệt énh Vĩnh TẾ. ha đất hoang được khai phá, đưa vào trồng trọt, sau đồ đưa tia cube vào đào kênh thi diện ích đất đã được tăng lên nhanh chóng và đạt đn 1.