chương I Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được Quốc hội thông qua năm 2010 có hiệu lực vào tháng 01/01/2011 thì “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng (TCTD) có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng họp tác xã” và “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Có thể thấy NHTM là một loại hình doanh nghiệp (DN) vì nó có cơ cấu, tổ chức bộ máy, cấu trúc tài chính giống như một doanh nghiệp, hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh vì mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận. Tuy nhiên, NHTM là một DN đặc biệt bởi vì: Lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng (NH) là tiền tệ, tín dụng và dịch vụ NH: Đây là lĩnh vực rất nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành cũng như mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội.
Chất liệu kinh doanh của NH là tiền tệ - một công 6 cụ được nhà nước sử dụng để quản lý vĩ mô nền kinh tế và quyết định đến sự phát triển hay suy thoái của nền kinh tế nên được nhà nước kiểm soát rất chặt chẽ. Nguồn vốn chủ yếu NH sử dụng là vốn từ bên ngoài: Tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn kinh doanh rất thấp, chủ yếu là nguồn vốn thông qua nghiệp vụ huy động nguồn tiền nhàn rỗi từ dân cư và các tổ chức kinh tế xã h ộ i. Hoạt động kinh doanh của NH chịu sự chi phối rất lớn bởi chính sách tiền tệ của NH trung ương: NHTM là một một trung gian TD, đóng vai trò một tổ chức trung gian huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế rồi biến nguồn vốn đó để cấp TD đáp ứng các nhu cầu vốn cho kinh doanh, đầu tư và tiêu dùng của nền kinh tế. Do đó, hoạt động kinh doanh của NH có tác động trực tiếp đến việc tiết kiệm và sử dụng vốn cũng như những hoạt động khác của toàn nền kinh tế.
Chính vì vậy, hoạt động kinh doanh của NH cần có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước để đảm bảo sự hoạt động kinh doanh an toàn, lành mạnh và hiệu quả của toàn nền kinh tế cũng như đảm bảo sự phát triển ổn định của toàn xã hội. Nghiệp vụ chỉnh của ngân hàng thương mại V Nghiệp vụ huy động vốn Đây là hoạt động cơ bản của NHTM, NH nhận được các khoản tiền gửi từ khách hàng dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. NH nhận tiền gửi của các cá nhân, của các tổ chức kinh tế và NH phải hoàn trả gốc và lãi cho khách hàng khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu càu sử dụng là đến rút tiền ở NH. Vốn huy động là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của NH và giữ vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NH.
Mặc dù bị giới hạn về mức huy động vốn, song nếu các NHTM sử dụng tốt nguốn vốn này thì không những nguồn lợi của NH được tăng lên mà còn tạo cho NH uy tín ngày càng cao. Qua hoạt động này NH đã thu hút một lượng lớn tiền tạm thời nhàn rỗi để phục vụ cho các hoạt động của mình như hoạt động cho vay và thông qua đó cung cấp phương tiện thanh toán cho nền kinh tế. 7 K Nghiệp vụ tín dụng Tuỳ theo nhu cầu và loại hình kinh doanh mà NH chấp nhận cấp TD theo các phương thức khác nhau trên cơ sở thoả mãn các điều kiện vay vốn do NH đưa ra. Khi thực hiện nghiệp vụ này thì nó đem lại lợi nhuận rất lớn cho NH và đây là nguồn thu chủ yếu của NH.
Theo đó NH giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng trong một khoảng thời gian và theo mục đích nhất định trên cơ sở với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. K Nghiệp vụ thanh toán quốc tế Dịch vụ thanh toán quốc tế: Thư tín dụng (L/C), Nhờ thu, chuyển tiền nước ngoài là các hoạt động liên quan đến nghiệp vụ thanh toán xuất nhập khẩu. Thông qua hệ thống các NH, việc thanh toán quốc tế trở lên dễ dàng và thuận tiện hơn. L/C, nhờ thu hay chuyển tiền là các phương thức thanh toán trong đó tùy từng phương thức mà trách nhiệm của NH sẽ là cao hay thấp.
K Nghiệp vụ đầu tư Hoạt động đầu tư giúp NHTM sử dụng và khai thác tối đa các nguồn vốn đã huy động. Đồng thời, nó cũng mang lại nguồn thu nhập quan trọng cho NHTM. NHTM có thể đầu tư vốn mua chứng khoán ngắn hạn của chính phủ. Những chứng khoán này vừa mang lại thu nhập cho NHTM, vừa góp phần vào việc cân bằng thu chi ngân sách thường xuyên; đồng thời góp phần điều hoà lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế.
Khái niệm tín dụng Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (NH và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, DN, và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có nghĩa vụ hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Căn cứ theo Điều 4 của Luật các TCTD số 47/2010/QH12 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 thì: “Cấp TD là việc thỏa thuận để tổ chức, cá 8 nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp TD khác”. Căn cứ theo khoản 01 Điều 03 của Quy chế cho vay của tổ chức TD đối với khách hàng (ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Ngân hàng nhà nước) thì “Cho vay là một hình thức cấp TD, theo đó TCTD giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”. Các hình thức cấp tín dụng Phân loại TD là việc sắp xếp các khoản vay theo nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định.
Phân loại TD một cách khoa học sẽ giúp cho nhà quản trị lập một quy trình TD thích hợp, giảm thiểu rủi ro TD, nâng cao chất lượng TD. Trong quá trình phân loại có thể dùng nhiều tiêu thức để phân loại, song thực tế các nhà kinh tế học thường phân loại TD theo các tiêu thức sau đây: V Phân loại theo thời hạn vay Việc phân loại thời hạn cho vay có ý nghĩa quan trọng mật thiết đến tính an toàn và tính sinh lợi của món vay cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng. Thời hạn của khoản vay còn ảnh hưởng tới kế hoạch vốn của NH, qua đó ảnh hưởng tới việc lập kế hoạch kinh doanh và khả năng thực hiện các khoản cho vay khác đến khách hàng. Theo thời hạn, các khoản cho vay được chia làm 3 loại: TD ngắn hạn là những khoản cho vay trong khoảng thời gian dưới một năm.
Mục đích vay chủ yếu là đầu tư vào tài sản lưu động có vòng quay trên một vòng trong một năm và các nhu cầu chi tiêu của cá nhân. TD ngắn hạn thường chiếm tỷ trọng lớn và NH, cho vay theo món hoặc hạn mức, có hoặc không cần tài sản đảm bảo, dưới hình thức chiết khấu, thấu chi hoặc luân chuyển. TD trung hạn là loại TD có thời hạn từ một năm đến năm năm và chủ yếu được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất và xây dựng các công trình nhỏ, có thời hạn thu hồi vốn nhanh. 9 TD dài hạn là những khoản cấp TD với thời hạn vay trên năm năm, nhằm đáp ứng nhu cầu dài hạn như xây dựng công trình giao thông, nhà máy xí nghiệp, công trình xây dựng có quy mô lớn với thời hạn sử dụng lâu dài.
K Phân loại theo phưong thức cho vay Cấp TD theo hạn mức là nghiệp vụ theo đó NH thoả thuận cấp cho khách hàng hạn mức TD. Hạn mức TD có thể cấp cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Hạn mức TD là số dư nợ tối đa mà NH cấp cho khách hàng tại mọi thời điểm. Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Cấp TD từng lần là hình thức cấp TD đối với khách hàng không có nhu cầu vay vốn thường xuyên. Chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay NH, tức là vốn vay của NH chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh. Hình thức cho vay này thường phải có tài sản đảm bảo và giá trị món vay được xác định dựa vào giá trị tài sản đảm bảo. Thấu chi là hình thức cấp TD trong đó NHTM cho phép người vay được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đén một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định.
Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi. Hình thức cho vay này tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng chủ động và kịp thời trong quá trình thanh toán. Cho vay trả góp là hình thức cho vay, theo đó NH cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn cho vay đã thỏa thuận. Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản cho vay trung và dài hạn, mục đích tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng hóa lâu bền.
K Phân loại theo đối tượng khách hàng Cho vay DN: Khách hàng vay là những DN có nhu cầu về vốn để tích luỹ tư bản phục vụ cho hoạt động mở rộng sản xuất kinh doanh của mình. Cho vay DN có tác dụng đảm bảo cho hoạt động của DN diễn ra liên tục và phát triển. 10 Cho vay cá nhân là hình thức vay vốn trong đó cá nhân là người trực tiếp vay vốn với mục đích phục vụ cho các hoạt động của bản thân.