Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lƣợng tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng thƣơng mại Chương 2: Thực trang chất lƣợng tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Sở giao dịch 1 Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Sở giao dịch 1 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TÍN DỤNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm tín dụng bán lẻ Tín dụng là một phạm trù kinh tế, nó là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa. Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau.
Quan hệ tín dụng đã phát triển qua nhiều hình thức, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Quan hệ tín dụng đƣợc phát sinh từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã. Khi chế độ tƣ hữu về tƣ liệu sản xuất xuất hiện, quan hệ tín dụng đầu tiên xuất hiện dƣới hình thức cho vay mƣợn bằng hiện vật, hàng hóa. Cùng với sự phát triển của xã hội, và sự đòi hỏi về phƣơng tiện chung để trao đổi, tính toán giá trị, tích lũy giá trị, tiền tệ ra đời.
Từ đó, tín dụng phát triển đến mức cao hơn, là vay mƣợn bằng tiền tệ. Xét về góc độ bản chất: Tín dụng xuất phát từ chữ latin là credo (tin tƣởng, tín nhiệm). Hiểu một cách đơn giản, tín dụng là việc sử dụng vốn, tài sản của ngƣời khác bằng uy tín, tín nhiệm của ngƣời sử dụng. Nhƣ vậy, tín dụng thể hiện mối quan hệ giữa ngƣời cho vay và ngƣời vay.
Trong khái niệm này có 02 chủ thể: Ngƣời có vốn (ngƣời cho vay) - muốn cho vay và ngƣời có chữ tín (hoặc tài sản thế chấp) muốn đi vay (ngƣời đi vay). Trong quan hệ này, ngƣời cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hóa cho ngƣời đi vay trong thời gian nhất định. Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả,. Ngƣời đi vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền hoặc giá trị hành hóa đã vay khi đến hạn trả nợ có kèm hoặc không kèm một khoản lãi.
Nhƣ vậy, tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản 5 xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả. Tùy theo mục đích hoạt động, tín dụng đƣợc chia thành: Tín dụng thƣơng mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nƣớc, tín dụng tiêu dùng, tín dụng thuê mua. “Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa Ngân hàng (TCTD) với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân), trong đó Ngân hàng (TCTD) chuyển giao tài sản cho bên vay trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi cho ngân hàng (TCTD) khi đến hạn thanh toán” Hoạt động tín dụng ngân hàng là hoạt động đƣợc nhà nƣớc, và toàn xã hội quan tâm. Tín dụng bán lẻ cùng với tín dụng bán buôn là hai bộ phận cấu thành nên hoạt động tín dụng của NHTM.
Bên cạnh mảng chủ lực là tín dụng bán buôn, các ngân hàng hiện nay đang rất quan tâm, và tập trung nguồn lực đầu tƣ và phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ, đặc biệt là tín dụng bán lẻ. Hiện nay, có nhiều quan điểm chƣa đƣợc thống nhất về khái niệm Tín dụng bán lẻ. Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, trong Basel II, tín dụng bán lẻ đƣợc định nghĩa thông qua các đặc điểm của bản thân khoản tín dụng. “Một khoản tín dụng đƣợc coi là tín dụng bán lẻ nếu thỏa mãn tất cả các điều kiện sau: - Đặc điểm của ngƣời vay hay giá trị khoản tín dụng nhỏ, cụ thể nhƣ sau: + Tín dụng đối với khách hàng cá nhân: gồm có các loại nhƣ tín dụng quay vòng, và hạn mức tín dụng, cũng nhƣ các khoản cho vay và cho thuê cá nhân có kỳ hạn.
+ Các khoản tín dụng mua nhà. + Các khoản tín dụng cấp cho các doanh nghiệp nhỏ và đƣợc quản lý nhƣ các khoản tín dụng bán lẻ nếu tổng dƣ nợ cho vay đối với khách hàng nhỏ. - Số lƣợng khoản tín dụng lớn: Khoản tín dụng phải là một thành phần 6 trong một nhóm lớn các khoản tín dụng tƣơng tự nhau, đƣợc ngân hàng quản lý theo nhóm. Tuy nhiên, theo quy định 353 về Chính sách cấp tín dụng bán lẻ của Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và phát triển Việt Nam, “Cấp tín dụng bán lẻ” là việc BIDV thoả thuận để khách hàng là cá nhân, hộ gia đình sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, thẻ tín dụng và các nghiệp vụ khác.
Nhƣ vậy, hoạt động tín dụng bán lẻ là loại hình tín dụng gồm các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và các nghiệp vụ khác đối với khách hàng bán lẻ nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, đầu tƣ, đời sống (tiêu dùng) của khách hàng. Đặc điểm tín dụng bán lẻ Từ định nghĩa về tín dụng bán lẻ, ta có thể rút ra một vài đặc điểm cơ bản của tín dụng bán lẻ nhƣ sau: - Dƣ nợ từng khoản tín dụng nhỏ: Vì đối tƣợng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, nên mặc dù tín dụng bán lẻ có số lƣợng giao dịch lớn nhƣng giá trị từng món giao dịch thƣờng nhỏ, doanh thu và lợi nhuận đối với mỗi giao dịch không cao. - Kỳ hạn của các khoản tín dụng bán lẻ thƣờng dài: Do các nhu cầu vay trung dài hạn mua nhà ở, đất ở, mua ô tô, hay mua sắm tài sản cố định cho sản xuất kinh doanh, cần nguồn vốn đầu tƣ lớn, tuy nhiên, nguồn trả nợ của khách hàng chủ yếu là thu nhập từ lƣơng, nên thời gian vay vốn thƣờng dài. - Chi phí cho tín dụng bán lẻ lớn hơn mức bình quân chung: Do các khoản vay nhỏ, lẻ, tuy nhiên vẫn phải đánh giá toàn diện về năng lực pháp lý, năng lực tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng, nên chi phí quản lý, chi phí hoạt động lớn.
Bên cạnh đó, các khoản vay thƣờng có thời gian vay dài, chi phí vốn cao. - Về mặt thủ tục và hồ sơ trong tín dụng bán lẻ tƣơng đối nhanh chóng và 7 đơn giản: So với các loại hình sản phẩm tín dụng khác, quy mô tín dụng bán lẻ thƣờng không lớn, hồ sơ thẩm định không phức tạp và cũng không cần phân tích đánh giá báo cáo tài chính nhƣ trong tín dụng doanh nghiệp, nên hồ sơ thủ tục đơn giản, thời gian xét duyệt nhanh chóng. - Cầu tín dụng ít co giãn với lãi suất: Nhu cầu vay vốn của nhóm khách hàng này chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng, cầu về tín dụng bán lẻ ít co giãn với lãi suất. Khi lãi suất biến động với một đại lƣợng không lớn thì nhu cầu vay vốn của khách hàng hầu nhƣ không thay đổi.
Do mục đích vay vốn của nhóm khách hàng này phục vụ nhu cầu thiết yếu (mua nhà, sửa chữa nhà, mua sắm ô tô, …). Đây là những nhu cầu đã đƣợc hoạch định, nằm trong kế hoạch dài hạn, sự thay đổi của lãi suất không đủ hấp dẫn, thu hút hay thay đổi kế hoạch chi tiêu của khách hàng. Do vậy, cầu ít co giãn với lãi suất. - Đa dạng hóa danh mục tài sản của ngân hàng, phân tán rủi ro: Vì là lĩnh vực ít chịu ảnh hƣởng của chu kỳ kinh tế và có lƣợng khách hàng rộng lớn, tín dụng bán lẻ đem lại doanh thu và lợi nhuận ổn định, chắc chắn, phân tán rủi ro cho hoạt động ngân hàng, góp phần đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, mở rộng thị trƣờng, nâng cao năng lực cạnh tranh, tận dụng và khai thác mọi tiềm năng của ngân hàng.
Các hình thức tín dụng bán lẻ Trên cơ sở các hình thức cấp tín dụng cơ bản, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các ngân hàng thƣơng mại hiện nay không ngừng nghiên cứu và đƣa ra rất nhiều sản phẩm mới, đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Các sản phẩm tín dụng bản lẻ rất đa dạng, thƣờng đƣợc phát triển và thiết kế trên cơ sở những sản phẩm tín dụng truyền thống, nhƣng có những nét đặc thù và có tên gọi riêng đối với các ngân hàng thƣơng mại. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn, ta có thể phân loại tín dụng bán lẻ nhƣ sau: 8 - Cho vay tiêu dùng: tiền vay đƣợc sử dụng cho mục đích tiêu dùng nhƣ: mua, xây dựng, sửa chữa nhà ở, đất ở, mua xe, đáp ứng các nhu cầu chi tiêu gia đình…. - Cho vay sản xuất kinh doanh: tiền vay đƣợc sử dụng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, không phải cho mục đích tiêu dùng, phi lợi nhuận.
Ngoài ra, căn cứ vào đặc điểm của dòng sản phẩm, ta có thể phân loại tín dụng bán lẻ nhƣ sau: Cho vay nhu cầu nhà ở: cho vay mua nhà nhà ở/nhận chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất ở, xây dựng, cải tạo, sửa chữa nhà ở. Cho vay mua ô tô: đáp ứng nhu cầu của khách hàng về việc sở hữu xe ô tô phục vụ mục đích tiêu dùng hoặc kinh doanh. Cho vay du học: cho vay nhằm mục đích thanh toán các chi phí phát sinh trong quá trình du học của du học sinh. Cho vay chứng minh tài chính: đáp ứng nhu cầu vay vốn để mở tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn nhằm chứng minh tài chính để hoàn thiện hồ sơ xin đăng ký du học với cơ sở đào tạo hoặc xin cấp/gia hạn visa để đi du học/du lịch/khám chữa bệnh/thăm thân/xuất khẩu lao động/thực hiện các mục đích hợp pháp khác tại nƣớc ngoài.
Cho vay tiêu dùng không có tài sản bảo đảm (cho vay tín chấp): là hình thức cho vay đáp ứng nhu cầu vay vốn tiêu dùng với nguồn trả nợ là thu nhập thƣờng xuyên, ổn định từ lƣơng và các khoản thu nhập khác có tính chất từ lƣơng nhu phụ cấp, thƣởng,… của khách hàng. Căn cứ theo phƣơng thức, cho vay tiêu dùng không tài sản bảo đảm đƣợc chia thành: (i) Thấu chi: là hình thức cho khách hàng đƣợc chi vƣợt quá số tiền có trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng.