Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu. Chương 2: Lý luận về thẩm định dự án đầu tư và chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại Chương 3: Thực trạng chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Tây giai đoạn 2008-2012 Chương 4: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Tây đến năm 2020 iii 1/ Chƣơng 2: Lý luận về thẩm định dự án đầu tƣ và chất lƣợng thẩm định dự án đầu tƣ tại ngân hàng thƣơng mại Ở Chương này, tác giả nghiên cứu 02 nội dung được phân chia thành 02 tiểu mục chính như sau: 1.1 Thẩm định dự án đầu tƣ trong ngân hàng thƣơng mại Thẩm định dự án đầu tư là việc rà soát, kiểm tra lại một cách khoa học, khách quan và toàn diện mọi nội dung của dự án và liên quan đến dự án nhằm khẳng định tính hiệu quả cũng như tính khả thi của dự án trước khi ra quyết định đầu tư. Đối với các nhà tài trợ vốn, tổ chức cho vay: Thẩm định dự án đầu tư tại NHTM được hiểu là việc các cán bộ thẩm định thực hiện việc thẩm tra, so sánh một cách khách quan, khoa học và toàn diện các nội dung của dự án để đánh giá về tính hợp lí, tính hiệu quả và khả thi của dự án, từ đó sẽ có những quyết định tài trợ về vốn hay không. Công tác thẩm định dự án đầu tư tại các NHTM có thể coi là công tác quan trọng nhất trong hoạt động cho vay theo dự án đầu tư.
Cụ thể, đối với NHTM, việc thẩm định dự án đầu tư mang lại những ý nghĩa sau: - Thông qua công tác thẩm định, NHTM với tư cách là nhà tài trợ vốn sẽ có được đánh giá về tính khả thi của dự án. - Trong quá trình thẩm định, các cán bộ thẩm định của ngân hàng cũng có thể phát hiện những sai sót, bất hợp lí của dự án. - Thông qua công tác thẩm định, nhà tài trợ vốn có cơ sở tương đối vững chắc để xác định số vốn đầu tư, tiến trình sử dụng vốn, thời gian hoàn vốn, kế hoạch trả nợ của chủ dự án. Nội dung công tác thẩm định dự án đầu tƣ Thẩm định khách hàng vay vốn Việc thẩm định khách hàng xin vay theo DAĐT là công việc trước nhất đối với cán bộ thẩm định.
Cần phải đánh giá được khách hàng đó là ai và họ có những iv điều kiện cơ bản như thế nào để trở thành khách hàng của ngân hàng. Trong đó những nội dung cần chú ý là: - Thẩm định tư cách và năng lực pháp lý của khách hàng - Thẩm định tình hình tài chính của khách hàng: Phân tích rõ về tình hình hoạt đông của khách hàng đồng thời phân tích tình hình tài chính của khách hàng thông qua các nhóm chỉ tiêu tài chính. - Thẩm định tình hình quan hệ tín dụng của khách hàng: Xem xét về quan hệ của khách hàng với chi nhánh cho vay và các chi nhánh khác cùng hệ thống; hoặc với tổ chức tín dụng khác. Thẩm định dự án đầu tư: Ở nội dung này, cán bộ thẩm định cần xem xét, đánh giá những nội dung như sau: - Thẩm định tính cấp thiết và mục tiêu của dự án - Thẩm định về phương diện thị trường của dự án: Xem xét, đánh giá một số nội dung như: Đánh giá về cung cầu sản phẩm dự án, Đánh giá về phương thức tiêu thụ và mạng lưới phân phối, đánh giá dự kiến khả năng tiêu thụ của dự án, đánh giá khả năng cung cấp nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào - Thẩm định về phương diện kỹ thuật của dự án: Đánh giá các nội dung cơ bản của dự án như: Lựa chọn địa điểm xây dựng, Quy mô công suất và công nghệ dây chuyền thiết bị của dự án… - Thẩm định phương diện tổ chức và quản lý thực hiện dự án - Thẩm định về tổng vốn đầu tư và tính khả thi phương án nguồn vốn: Đây là một nội dung khá quan trọng trong công tác thẩm định dự án đầu tư.
Ở phần này, cán bộ thẩm định sẽ phân tích 03 nội dung là Xác định tổng vốn đầu tư của dự án, Xác định thành phần nguồn vốn của dự án và mức độ khả thi nguồn vốn, Xác định độ an toàn tài chính đối với dự án thông qua đánh giá một số chỉ tiêu… - Thẩm định về hiệu quả tài chính của dự án: Đây được xem là nội dung quan trọng nhất trong công tác thẩm định dự án đầu tư đứng trên góc độ của ngân hàng, tất cả những nội dung phân tích nêu trên để phục vụ cho công tác thẩm định hiệu v quả tài chính của dự án. Ở nội dung này, cán bộ thẩm định sẽ đánh giá tài chính của dự án theo 03 bước: xác định dòng tiền của dự án, xác định tỷ suất chiết khấu của dự án, xác định các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án. Phân tích rủi ro của dự án Một dự án đầu tư, từ khâu chuẩn bị đầu tư đến thực hiện đầu tư và đi vào sản xuất có thể xẩy ra nhiều loại rủi ro khác nhau (do nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan), việc tính toán khả năng tài chính của dự án như đã giới thiệu ở trên chỉ đúng trong trường hợp dự án không bị ảnh hưởng bởi một loạt các rủi ro có thể xảy ra. Ở phần này, cán bộ thẩm định cần đánh giá được một số loại rủi ro sau: Rủi ro cơ chế chính sách, rủi ro xây dựng, rủi ro thị trường, rủi ro vận hành, rủi ro tỷ giá … Có thể nói rằng bất cứ dự án nào cũng có thể gặp rủi ro vì thời gian của một dự án là rất dài.
Công việc phân tích và đánh giá rủi ro của các cán bộ tín dụng vì thế mà trở nên rất quan trọng và cần thiết. Phƣơng pháp thẩm định dự án: Trong quá trình thẩm định có thể tiến hành theo nhiều phương pháp khác nhau, tùy thuộc vào nội dung và yêu cầu đối với dự án. Để dự án đầu tư được thẩm định đầy đủ, chính xác, ngân hàng có thể sử dụng kết hợp linh hoạt các phương pháp sau: - Phương pháp thẩm định theo trình tự - Phương pháp so sánh các chỉ tiêu - Phương pháp dự báo - Phương pháp phân tích độ nhạy - Phương pháp triệt tiêu rủi ro 1.2 Chất lƣợng thẩm định dự án đầu tƣ tại ngân hàng thƣơng mại Đây là nội dung chính của luận văn. Tác giả xem xét, đánh giá nội dung này theo 03 nội dung.
Quan điểm về chất lƣợng thẩm định dự án đầu tƣ Thẩm định dự án được coi là có chất lượng khi đạt được mục tiêu thẩm định của ngân hàng, đồng thời thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng. Đối với khách hàng, công tác thẩm định đạt chất lượng khi nó đưa ra một dự án hoàn hảo hơn, hỗ vi trợ đắc lực cho việc thực hiện một kế hoạch đầu tư, đảm bảo khi dự án đi vào hoạt động sẽ phát huy hiệu quả đúng như những tiêu chí đã đặt ra ban đầu và không bỏ sót bất kì một cơ hội đầu tư nào, cũng như không có những quyết định sai lầm trong phê duyệt dự án. Các chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng thẩm định dự án đầu tƣ - Nhóm chỉ tiêu định lƣợng: Về cơ bản, nhóm chỉ tiêu này gồm các chỉ tiêu sau: + Tỷ lệ nợ quá hạn (trung dài hạn)/tổng dư nợ trung dài hạn + Thời gian thẩm định + Chi phí thẩm định - Nhóm chỉ tiêu định tính: Bao gồm các chỉ tiêu sau + Sự tuân thủ quy trình thẩm định + Phương pháp tiến hành thẩm định + Thông tin thẩm định + Kết quả thẩm định Các nhân tố ảnh hƣởng tới chất lƣợng thẩm định DAĐT Chất lượng thẩm định dự án đầu tư bị chi phối bởi nhiều nhân tố, song có thể phân chia thành nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan. - Nhóm nhân tố chủ quan + Việc tổ chức điều hành thẩm định: Tổ chức điều hành công tác thẩm định cần phải được tiến hành một cách khoa học, phát huy tính sáng tạo, tinh thần trách nhiệm và ý thức tập thể của đội ngũ cán bộ thẩm định.
Thực hiện được như vậy là dấu hiệu có được kết quả thẩm định tốt. + Nhân tố con người: Con người là nhân tố trung tâm chi phối, có ảnh hưởng quyết định đến hoạt động thẩm định dự án đầu tư và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công tác thẩm định. + Thông tin thẩm định: Đây không chỉ là chỉ tiêu đánh giá chất lượng thẩm định mà đây cũng chính là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định. vii + Cơ sở vật chất của ngân hàng - Nhóm nhân tố khách quan + Khách hàng vay vốn: Công tác thẩm định là do cán bộ ngân hàng đảm nhiệm, tuy nhiên họ thực hiện dựa trên đề nghị vay vốn và hồ sơ mà khách hàng gửi đến.
Trong nhiều trường hợp chính khách hàng là người gây khó khăn cho công tác thẩm định. + Môi trường kinh tế và chính sách quản lý của nhà nước + Các yếu tố tự nhiên 2/ Chƣơng 3: Thực trạng chất lƣợng thẩm định dự án đầu tƣ tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Tây giai đoạn 2008-2012 2.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Tây Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Tây (trước khi sáp nhập vào Hà Nội chi nhánh có tên là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh Hà Tây) là một trong những chi nhánh của BIDV, tiền thân là Phòng Đầu tư và phát triển Hà Sơn Bình được thành lập ngày 01/06/1990. Kể từ ngày 01/01/1995 Ngân hàng có nhiệm vụ huy động các nguồn vốn ngắn, trung và dài hạn từ các thành phần kinh tế, các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp, dân cư, tổ chức nước ngoài…bằng VND và USD để tiến hành các hoạt động cho vay ngắn, trung và dài hạn đối với mọi tổ chức, mọi thành phần kinh tế và dân cư. Mô hình hoạt động của ngân hàng: đã chuyển đổi theo mô hình TA2 của BIDV ban hành năm 2008.