CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ TRANG TRẠI NTTS 1.1 Cơ sở lý luận về chất lượng sản phẩm và kiểm soát các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.1 Các khái niệm * Khái niệm sản phẩm Theo TCVN 5814: sản phẩm là “ Kết quả của các hoạt động hoặc các quá trình (Quản lý chất lượng và đảm bảo chất lượng - Thuật ngữ và định nghĩa - TCVN 6814-1994). Có nhiều cách phân loại sản phẩm theo những quan điểm khác nhau. Một trong cách phân loại phổ biến là người ta chia sản phẩm thành 2 nhóm lớn: Nhóm sản phẩm thuần vật chất: là những vật phẩm mang đặc tính lý hoá nhất định. Nhóm sản phẩm phi vật chất: đó là dịch vụ.
Dịch vụ là “Kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa người cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng” (Quản lý chất lượng và đảm bảo chất lượng - Thuật ngữ và định nghĩa - TCV5814-1994). Hoạt động dịch vụ phát triển theo trình độ phát triển kinh tế và xã hội. Ở các nước phát triển thu nhập qua dịch vụ có thể đạt tới 60-70% tổng thu nhập xã hội. * Khái niệm chất lượng sản phẩm: Một số quan điểm: - Chất lượng sản phẩm là một phạm trù phức tạp, một khái niệm mang tính chất tổng hợp về các mặt kinh tế - kỹ thuật, xã hội.
- Chất lượng sản phẩm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, triển khai và chuẩn bị sản xuất, được đảm bảo trong quá trình tiến hàng sản xuất và được duy trì trong quá trình sử dụng. Thông thường người ta cho rằng sản phẩm có chất lượng là những sản phẩm hay dịch vụ hảo hạng, đạt được trình độ của khu vực hay thế giới và đáp ứng được mong đợi của khách hàng với chi phí có thể chấp nhận được. Nếu quá trình sản xuất 4 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Tuyết Anh – 10BQTKD có chi phí không phù hợp với giá bán thì khách hàng sẽ không chấp nhận giá trị của nó, có nghĩa là giá bán cao hơn giá mà khách hàng chịu bỏ ra để đổi lấy các đặc tính của sản phẩm. Như vậy ta thấy cách nhìn về chất lượng giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng khác nhau nhưng không mâu thuẫn nhau.
Ý nghĩa chất lượng Cách nhìn của nhà Cách nhìn của sản xuất khác hàng Chất lượng của phù hợp Chất lượng của thiết Sản - Phù hợp với đặc tính kỹ kế xuất thuật Marketing - Chi phí - Đặc tính của chất lượng - Giá bán Thoả mãn nhu cầu của khách hàng Sơ đồ 1.1 : Các cách nhìn khác nhau về chất lượng Xuất phát từ những quan điểm khác nhau, hiện có hàng trăm định nghĩa khác nhau về chất lượng sản phẩm. TCVN 518-1994 trên cơ sở tiêu chuẩn ISO-9000 đã đưa ra định nghĩa: Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đó có khả năng thoả mãn những yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn. Như vậy “khả năng thoả mãn nhu cầu” là chỉ tiêu cơ bản nhất để đánh giá chất lượng sản phẩm. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm: - Sự hoàn thiện của sản phẩm: đây là yếu tố để giúp chúng ta phân biệt sản phẩm này với sản phẩm khác, thường thể hiện thông qua các yêu cầu mà nó đạt được.
5 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Tuyết Anh – 10BQTKD đây cũng chính là điều tối thiểu mà mọi doanh nghiệp phải cung cấp cho khách hàng thông qua sản phẩm của mình. Những yêu cầu gồm; a. Nhóm yếu tố bên ngoài: - Tình hình thị trường: đây là nhân tố quan trọng nhất, là xuất phát điểm, tạo lực hút định hướng cho sự phát triển CLSP. Xu hướng phát triển và hoàn thiện CLSP phụ thuộc vào đặc điểm và xu hướng vận động của nhu cầu thị trường.
Nhu cầu càng phong phú, đa dạng và thay đổi nhanh càng cần hoàn thiện chất lượng để thích ứng kịp thời đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng. Xác định đúng nhu cầu, cấu trúc, đăc điểm và xu hướng vận động của nhu cầu là căn cứ đầu tiên, quan trọng để định hướng phát triển CLSP. - Sự phát triển của khoa học kỹ thuật: trong thời đại hiện nay, khi khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì trình độ chất lượng của bất kỳ sản phẩm nào cũng gắn liền và bị chi phối bởi sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhất là sự ứng dụng các thành tựu của nó vào sản xuất. Kết quả chính của việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất là tạo ra sự nhảy vọt về năng suất, chất lượng và hiệu quả.
Các hướng chủ yếu của việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện nay là: Sáng tạo vật liệu mới hay vật liệu thay thế; Cải tiến hay đổi mới công nghệ; Cải tiến sản phẩm cũ và chế thử sản phẩm mới; Hiệu lực của cơ chế quản lý kinh tế. Chất lượng sản phẩm chịu tác động, chi phối bởi các cơ chế quản lý kinh tế, kỹ thuật, xã hội như: Kế hoạch hoá phát triển kinh tế; Giá cả; Chính sách đầu tư; Tổ chức quản lý về chất lượng. Nhóm nhân tố bên trong QUY TẮC 4M ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG NHƯ THẾ NÀO? MACHINES MEN Thiết bị Lãnh đạo Công nhân Công nghệ Khách hàng QUALITY Chất lượng MATERIALS METHODS Vật liêu Phương pháp Năng lượng quản trị 6 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Tuyết Anh – 10BQTKD Trong nội bộ doanh nghiệp, các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm có thể được biểu thị bằng quy tắc 4M, đó là: Men: con người, lực lượng lao động trong doanh nghiệp. Methods: phương pháp quản trị, công nghệ, trình độ tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất của doanh nghiệp.
Machines: khả năng về công nghệ, máy móc thiết bị của doanh nghiệp. Materials: vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu và hệ thống tổ chức đảm bảo vật chất, nguyên nhiên vật liệu của doanh nghiệp. Trong 4 yếu tố trên, con người được xem là yếu tố quan trọng nhất. Và chất lượng quản trị mới là gốc của vấn đề.
Một hệ thống quản trị tốt sẽ giúp cải tiến mọi hoạt động của doanh nghiệp, trong đó có cả các hoạt động liên quan đến chất lượng sản phẩm và chi phí. Chỉ nhờ vào việc nâng cao chất lượng quản trị mới nâng cao được chất lượng sản phẩm mà không phải tốn kém chi phí. Thậm chí, chất lượng quản trị tốt chẳng những giúp nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn làm giảm chi phí, đặc biệt là chi phí ẩn (SCP). Vận dụng nghiên cứu kiểm soát các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thuỷ sản và hiệu quả kinh tế của các trang trại NTTS.
Lý luận về nuôi trồng thuỷ sản tại trang trại 1. Lý luận về nuôi trồng thuỷ sản * Một số khái niệm: Hiện nay, trên thế giới có nhiều khái niệm về NTTS. Theo quan điểm của các nhà kinh tế học: NTTS là một hoạt động sản xuất tạo ra nguyên liệu thủy sản cho quá trình tiêu dùng sản phẩm, hoạt động xuất khẩu và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thủy sản. Theo FAO (Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc, 1992), thì NTTS (Aquaculture) là hoạt động canh tác trên đối tượng sinh vật thủy sinh như nhuyễn thể, giáp xác, thực vật thủy sinh,.
Quá trình này bắt đầu từ thả giống, chăm sóc nuôi lớn tới thu hoạch. Có thể nuôi từng cá thể hoặc cả quần thể với nhiều hình thức nuôi theo mức độ thâm canh khác nhau: 7 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Tuyết Anh – 10BQTKD - Nuôi thủy sản siêu thâm canh: là nuôi có năng suất cao, trung bình hơn 20 tấn/ha/năm; sử dụng thức ăn viên công nghiệp có thành phần dinh dưỡng đáp ứng như cầu của đối tượng nuôi; giống được sản xuất từ các trại (hay là giống nhân tạo); không dùng phân bón và loại bỏ hết dịch hại; kiểm soát hoàn toàn các điều kiện nuôi (nước được bơm hay tự chảy, thay nước hoàn toàn chủ động và kiểm soát chất lượng nước, có sục khí,.); nuôi chủ yếu trong ao nước chảy (flowing water pond), trong lồng (cage), bể (tank) hay trong hệ thống máng nước chảy (raceways) (Nguyễn Thanh Phương và cộng sự, 2009). - Nuôi thủy sản thâm canh:là hình thức nuôi có năng suất lên tới 20 tấn/ha/năm; kiểm soát tốt các điều kiện nuôi; chi phí đầu tư ban đầu, kỹ thuật áp dụng và hiệu quả sản xuất đều cao; và có xu hướng tiến tới chủ động kiểm soát tất cả các điều kiện nuôi (khí hậu và chất lượng nước); và các hệ thống nuôi có tính nhân tạo (man-made culture system) (Nguyễn Thanh Phương và cộng sự, 2009). - Nuôi thủy sản bán thâm canh: là hình thức nuôi có năng suất từ 10-20 tấn/ha/năm; lệ thuộc nhiều vào nguồn thức ăn tự nhiên nhờ vào bón phân hay cho ăn bổ sung; giống được sản xuất từ các trại (hay là giống nhận tạo); bón phân định kỳ, trao đổi nước hoặc sục khí định kỳ; cấp nước bằng máy bơm hoặc tự chảy; nuôi trong ao quầng hoặc bè đơn giản (Nguyễn Thanh Phương và cộng sự, 2009).
- Nuôi thủy sản quảng canh cải tiến: là hình thức nuôi có năng suất từ 0,5 – 5 tấn/ha/năm có thể cho ăn bổ sung bằng thức ăn chất lượng thấp; giống được sản xuất từ các trại (giống nhận tạo) hay thu gom ngoài tự nhiên; bón phân vô hay hữu cơ thường xuyên; quan sát một số yếu tố chất lượng nước đơn giản. Nuôi ao, lồng đơn giản (ví dụ nuôi cá lồng dựa vào thức ăn tự nhiên và có bổ sung thức ăn) (Nguyễn Thanh Phương và cộng sự, 2009). - Nuôi thủy sản quảng canh : là hình thức nuôi mà mức độ kiểm soát hệ thống nuôi thấp (môi trường, thức ăn, dịch hại, bệnh…); mức độ đầu tư ban đầu, kỹ thuật áp dụng và hiệu quả + Sản xuất đều thấp (năng suất <500 kg/ha/năm); phụ thuộc nhiều vào thời tiết, chất lượng nước; nuôi tận dụng mặt nước tự nhiên (ví dụ: đầm phá, vịnh, eo ngách); 8 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Tuyết Anh – 10BQTKD và không chủ động được loại thức ăn tự nhiên cho cá (Nguyễn Thanh Phương và cộng sự, 2009). - Nuôi thủy sản kết hợp: là hình thức nuôi thủy sản chia sẻ tài nguyên như nước, thức ăn, quản lý,… với các hoạt động khác; thường là nông nghiệp, công nghiệp, cơ sở hạ tầng (chất thải trong sản xuất, trạm thủy điện,…).
Nuôi cá trong hồ chứa nước thủy điện,… (Nguyễn Thanh Phương và cộng sự, 2009).