CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG KHỐI HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN TẠI HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH 1. Nguồn nhân lực trong khối hành chính nhà nước cấp huyện BB Hiện nay, có nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau về NNL: - Theo Liên Hợp quốc, thì “NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [21]. - Ngân hàng thế giới cho rằng: “NNL là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân”. Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên [21].
- Theo Tổ chức Lao động quốc tế, “NNL của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động” [21]. NNL được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, NNL là nguồn cung cấp sức lao động sản xuất cho xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, NNL bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, NNL là khả năng lao động của xã hội, nguồn lực cho sự phát triển KT - XH, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực, tâm lực được huy động vào quá trình lao động.
- Dưới góc độ kinh tế phát triển: NNL là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động [21]. NNL được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc 7 theo quy định của NN và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; về chất lượng, là sức khoẻ, trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động. Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm. Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng.
Như vậy, theo khái niệm này, có một số được tính là NNL nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là: những người không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học… - Tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị, có thể hiểu: “NNL là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử, được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước” [21]. - Đối với một quốc gia, NNL là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại, cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội. NNL là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công hay không thành công trong phát triển KT – XH của quốc gia.
- Đối với một tổ chức, NNL vừa là mục tiêu vừa là động lực, là yếu tố cơ bản cấu thành nên tổ chức, điều kiện cho tổ chức tồn tại và phát triển. Vì vậy, một tổ chức được đánh giá mạnh hay yếu, phát triển hay tụt hậu phụ thuộc phần lớn vào chất lượng NNL tổ chức đó. Từ những phân tích khái quát trên, khái niệm NNL được hiểu là tổng thể số lượng, chất lượng và cơ cấu con người với các tiêu chí về thể lực, trí 8 lực, tâm lực để hoàn thành tốt các mục tiêu nhiệm vụ phát triển của tổ chức trong những giai đoạn cụ thể nhất định. Khái niệm nguồn nhân lực trong khối hành chính nhà nước cấp huyện NNL trong KHC NN cấp huyện là tập hợp đội ngũ CB, CC, VC, NLĐ trong các cơ quan thuộc KHC NN cấp huyện.
- Khái niệm cán bộ: là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [27]. - Khái niệm công chức: là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [27]. - Khái niệm viên chức: là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [27]. 9 NNL này bao gồm số lượng, cơ cấu và chất lượng tương ứng với các vị trí làm việc khác nhau trong các cơ quan cấp huyện.
Các cơ quan trong KHC NN cấp huyện (theo Nghị định số 37/2014/NĐ-CP, ngày 05/4/2014 của Chính phủ), gồm: - Văn phòng HĐND&UBND huyện. - Phòng Giáo dục vào Đào tạo huyện. - Phòng Nội vụ huyện. - Phòng Tài chính Kế hoạch huyện.
- Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện. - Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện. - Phòng Tư pháp huyện. - Cơ quan Thanh tra huyện.
- Phòng Y tế huyện. - Phòng Văn hóa và Thông tin huyện. Đặc điểm nguồn nhân lực trong khối hành chính nhà nước cấp huyện Bộ máy hành chính NN nước ta được tổ chức theo nguyên tắc tập trung, thống nhất từ Trung ương, đồng thời phân cấp cho chính quyền địa phương. Do đó, bộ máy chính quyền địa phương, mặc dù được hình thành một cách độc lập, nhưng phải tuân thủ luật pháp của Quốc hội ban hành và quy định pháp lý của Chính phủ.
Mỗi CQHC cấp huyện phải chịu sự lãnh đạo trực tiếp của chính quyền cấp huyện (cụ thể là HĐND và UBND huyện), đồng thời phải chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo của các sở, ban, ngành cấp tỉnh. NNL trong KHC NN cấp huyện có những đặc điểm như sau: - Một là, NNL trong KHC NN cấp huyện là chủ thể của nền công vụ tại địa phương: là những người có vị trí trong hệ thống KHC cấp huyện; hạt nhân cơ bản, chủ thể thực sự tiến hành công việc cụ thể và cũng là yếu tố đảm bảo 10 cho nền công vụ cấp huyện hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì: NNL trong KHC NN cấp huyện hoạt động trong hệ thống quản lý thống nhất của NN, đảm bảo thực hiện đúng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật NN; trực tiếp tham gia xây dựng đường lối đổi mới về KT-XH, quốc phòng, an ninh,… góp phần xây dựng địa phương phát triển bền vững. - Hai là, NNL trong KHC NN cấp huyện là những người làm việc trong bộ máy nhà nước ở địa phương cấp huyện, vừa thực hiện chức năng quản lý theo ngành dọc vừa chịu sự quản lý của địa phương: NNL trong KHC NN cấp huyện là những người được tuyển vào thông qua cơ chế tuyển dụng, với đầy đủ năng lực và phẩm chất phù hợp với nhiệm vụ được giao. - Ba là, NNL trong KHC NN cấp huyện thực hiện những nhiệm vụ của địa phương và phải quản lý phù hợp với tình hình thực tế của địa phương như đặc điểm tự nhiên, vị trí địa lý, đặc điểm văn hóa, dân tộc,.
Để có NNL trong KHC NN cấp huyện hoạt động hiệu lực, hiệu quả, cần xây dựng NNL phù hợp với vị trí việc làm và tình hình thực tế của địa phương. - Bốn là, chất lượng NNL trong KHC NN cấp huyện không đồng đều giữa các huyện trong tỉnh: là do mỗi huyện có điều kiện lịch sử, tự nhiên, vị trí địa lý, trình độ phát triển KT-XH,… khác nhau, do đó NNL tại các huyện có sự khác biệt nhau về trình độ. Đặc biệt ở các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa, gặp nhiều khó khăn, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp thuần túy, thu nhập bình quân đầu người thấp, trình độ dân trí thấp dẫn đến khả năng tiếp thu những tri thức mới về khoa học áp dụng vào sản xuất, điều hành công việc hạn chế, dẫn đến năng suất lao động mang lại đạt hiệu quả không cao. Vai trò nguồn nhân lực trong khối hành chính nhà nước cấp huyện NNL trong KHC NN cấp huyện có vai trò rất quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển KT-XH,… của địa phương; là lực lượng 11 lao động xã hội đặc biệt, mặc dù không trực tiếp tạo ra các sản phẩm vật chất phục vụ nhu cầu của xã hội, nhưng những hoạt động trong công tác quản lý hành chính, thực hiện nhiệm vụ được giao, dịch vụ công do NNL trong KHC NN cấp huyện thực hiện có vai trò tạo ra môi trường, điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt, văn hóa, xã hội diễn ra đúng theo quy định pháp luật của NN… phục vụ sự phát triển của cả nước nói chung và tại huyện nói riêng.