CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢN LÝ HTĐĐĐN 1. Khái niệm về chất lượng : 1. Khái niệm chung: Trong cuộc sống hàng ngày, thuật ngữ chất lượng thường xuyên được nhắc tới, nhưng không phải ai cũng có thể hiểu được thấu đáo và sử dụng đúng các thuật ngữ này. Có rất nhiều các quan điểm khác nhau được các nhà nghiên cứu đưa ra trên cơ sở nghiên cứu ở các góc độ khác nhau.Groby cho rằng: "Chất lượng là sự phù hợp với những yêu cầu hay đặc tính nhất định".Jujan lại cho rằng: : "Chất lượng là sự phù hợp với các mục đích và việc sử dụng".
Các khái niệm trên được nhìn nhận một cách linh hoạt và gắn liền nhu cầu, mục đích sử dụng của người tiêu dùng. Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông: " Chất lượng là tổng thể những tính chất, những thuộc tính cơ bản của sự vật. làm cho sự vật này phân biệt với sự vật khác". Theo tiêu chuẩn số 8402-86 (Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO) và tiêu chuẩn số TCVN 5814-94 (Tiêu chuẩn Việt nam): "Chất lượng là tập hợp các đặc tính của 1 thực thể, đối tượng; tạo cho chúng khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn": Các khái niệm đưa ra trên đây cho dù được tiếp cận dưới góc độ nào đều phải đảm bảo được 2 đặc trưng chủ yếu.
-Chất lượng luôn luôn gắn liền với thực thể vật chất nhất định, không có chất lượng tách biệt khỏi thực thể. Thực thể được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là sản phẩm mà còn bao hàm cả các hoạt động, quá trình, doanh nghiệp hay con người. -Chất lượng được đo bằng sự thoả mãn nhu cầu. Nhu cầu bao gồm cả những nhu cầu đã nêu ra và những nhu cầu tiềm ẩn được phát hiện trong quá trình sử dụng.
Hệ thống đo đếm điện năng cũng là 1 sản phẩm tổng hợp của EVN HANOI được sử dụng để làm phương tiện đo đếm điện năng tiêu thụ của khách hàng và nó cũng phải đảm bảo chất lượng theo yêu cầu kỹ thuật đo lường, đảm bảo hợp pháp theo đúng quy định của pháp luật. Trong những năm trước đây, quan điểm của các quốc gia thuộc hệ thống XNCN cho rằng chất lượng sản phẩm đồng nhất với giá trị sử dụng của sản phẩm. Họ cho rằng, :"Chất lượng sản phẩm là tổng hợp các đặc tính kỹ thuật, kinh tế của sản phẩm phản ánh giá trị sử dụng và chức năng của sản phẩm đó". Quan điểm này được xem xét dưới góc độ của nhà sản xuất.
Theo đó, chất lượng sản phẩm được xem xét biệt lập, tách rời với nhu cầu, sự biến động của thị trường, hiệu quả kinh tế Viện Kinh tế và Quản lý 4 Nguyễn Việt Hùng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ QTKD và các điều kiện của một doanh nghiệp. Tuy nhiên, quan điểm này lại phù hợp với hoàn cảnh lúc bấy giờ. Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung mọi vấn đề đều được thực hiện theo chỉ tiêu kế hoạch, sản phẩm sản xuất ra không đủ đáp ứng nhu cầu thị trường. Đồng thời, các doanh nghiệp cũng ít chú ý tới vấn đề chất lượng sản phẩm, mà nếu có cũng chỉ trên giấy tờ, khẩu hiệu mà thôi.
Nhưng năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự hạch toán kinh doanh, cũng như chịu mọi trách nhiệm về sự phát triển của công ty mình. Cùng tồn tại trong một môi trường, điều kiện, các doanh nghiệp vừa bình đẳng vừa cạnh tranh với nhau để vươn lên tồn tại, phát triển, suy cho cùng vấn đề tiêu thụ sản phẩm là yếu tố quyết định đến sự tồn tại cảu doanh nghiệp trong cơ chế thị trường. Chính vì vậy, mà nảy sinh nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản phẩm theo hướng công nghệ là tập hợp các đặc tính kỹ thuật, công nghệ và vận hành sản phẩm, có thể đo được hoặc so sánh được, nó phản ánh giá trị sử dụng và chắc năng của sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm.
Trong những điều kiện xác định về kinh tế xã hội, quan điểm này đã phản ánh đúng bản chất của sản phẩm về mặt kỹ thuật. Nhưng ở đây, nó chỉ là 1 chỉ tiêu kỹ thuật, không gắn liền với những biến đổi của nhu cầu thị trường, cũng như điều kiện sản xuất và hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, mỗi nước mỗi khu vực cụ thể. Do vậy, điều đó sẽ dẫn đến nguy cơ chất lượng sản phẩm không cải tiến kịp thời, khả năng tiêu thụ kém và không phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng. Tuy nhiên quan điểm này để dùng đánh giá được chất lượng sản phẩm, đồng thời có thể cải tiến, hoàn thiện sản phẩm (về mặt kỹ thuật) thông qua việc xác đinh rõ những đặc tính hoặc chỉ tiêu của sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm tiếp cận theo hướng khách hàng là các đặc tính của sản phẩm phù hợp với yêu cầu của khách hàng và có khả năng thoả mãn nhu cầu của họ. Theo cách tiếp cận này thì chỉ có những đặc tính của sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng mới được coi là chất lượng sản phẩm. Mức độ thoả mãn nhu cầu là cơ sở để đánh giá chất lượng sản phẩm. ở đây, chất lượng sản phẩm không cần thiết phải tốt nhất, cao nhất mà chỉ cần nó phù hợp và đáp ứng được các nhu cầu của người tiêu dùng.
Khách hàng chính là người xác định chất lượng của sản phẩm chứ không phải nhà sản xuất hay nhà quản lý. Do đó, sản phẩm hàng hoá cần phải được cải tiến, đổi mới một cách thường xuyên và kịp thời về chất lượng để thoả mãn 1 cách tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng. Đây cũng chính là khó khăn lớn mà nhà sản xuất- kinh doanh phải tự tìm ra câu trả lời và hướng đi lên của doanh nghiệp. Theo các hướng tiếp cận trên đây, để giảm đi những hạn chế của từng quan niệm, tổ chức ISO đã đưa ra khái niệm về chất lượng sản phẩm như sau: "Chất lượng sản phẩm là một tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng); tạo cho thực thể (đối tượng) đó có khả năng thoả mãn nhu cầu xác định hoặc tiềm ẩn".
Quan niệm này phản ánh được chính xác, đầy đủ, bao quát nhất những vấn đề liên quan tới chất lượng sản phẩm, từ các yếu tố, đặc tính cơ lý hoá liên quan đến nội tại sản phẩm tới nhứng yếu tố chủ quan trong quá trình mua sắm và sử dụng của người tiêu dùng: đó là khả năng thoả mãn nhu cầu. Chính vì sự kết hợp này mà khái niệm trên đây được chấp nhận khá phổ biến. Viện Kinh tế và Quản lý 5 Nguyễn Việt Hùng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ QTKD Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm. Nhưng trái lại, việc nâng cao chất lượng sản phẩm lại bị giới hạn bởi công nghệ và các điều kiện kinh tế xã hội khác.
Do đó, chất lượng sản phẩm trong nền kinh tế thị trường được coi là hệ thống những đặc tính nội tại của sản phẩm, được xác định bằng những thông số có thể đo được hoặc so sánh được và phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã hội và kỹ thuật hiện tại, thoả mãn được nhu cầu nhất định của xã hội. Khái niệm về chất lượng HTĐĐĐN: 1. Khái niệm về hệ thống đo đếm điện năng: [28, 29] Hệ thống đo đếm điện năng bao gồm các phương tiện đo như công tơ điện, máy biến dòng điện, máy biến điện áp đo lường, mạch đấu dây và các thành phần khác để hoàn thiện một hệ thống đo đếm như dây dẫn điện, hòm bảo vệ, ống thép bảo vệ, cột điện… Hệ thống đo đếm điện năng được sử dụng để đo dòng điện (I), điện áp (U), góc pha (φ), công suất tác dụng (P), công suất phản kháng (Q), công suất toàn phần (S)… đếm điện năng (điện năng tác dụng, phản kháng, toàn phần) tiêu thụ của phụ tải. Các thiết bị chính trong hệ thống đo đếm điện năng a/ Công tơ điện: biến đổi các tín hiệu đầu vào bao gồm dòng điện, điện áp thành kết quả đầu ra là điện năng (có thể là điện năng tác dụng hoặc điện năng phản kháng hoặc cả 2).1: Hình các loại công tơ đang sử dụng.
(Nguồn: Giáo trình Đo lường điện. Tài liệu nội bộ của EVN HANOI) b/ Máy biến điện áp đo lường (hay còn gọi là TU): biến đổi điện áp cao thành điện áp thấp phù hợp với công tơ để thực hiện phép đo.2: Hình các loại máy biến điện áp đang sử dụng (Nguồn: Giáo trình Đo lường điện. Tài liệu nội bộ của EVN HANOI) Viện Kinh tế và Quản lý 6 Nguyễn Việt Hùng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ QTKD c/ Máy biến dòng điện đo lường (hay còn gọi là TI): biến đổi dòng điện lớn thành dòng điện nhỏ phù hợp với công tơ để thực hiện phép đo.3: Hình các loại máy biến dòng điện đang sử dụng (Nguồn: Giáo trình Đo lường điện. Tài liệu nội bộ của EVN HANOI) Tùy theo thực tế, một hệ thống đo đếm điện năng có thể là : - Công tơ điện, dây dẫn đấu nối, hòm công tơ: đo trực tiếp.4: Sơ đồ đấu nối các thành phần của HTĐĐĐN trực tiếp (Nguồn: Giáo trình Đo lường điện.
Tài liệu nội bộ của EVN HANOI) - Công tơ, TI, dây dẫn đấu nối, hòm (tủ) công tơ: đo đếm gián tiếp ở cấp điện áp thấp, thông thường là hạ thế nhưng có dòng điện tiêu thụ lớn.5: Sơ đồ đấu nối các thành phần của HTĐĐĐN gián tiếp qua TI hạ thế (Nguồn: Giáo trình Đo lường điện. Tài liệu nội bộ của EVN HANOI) Viện Kinh tế và Quản lý 7 Nguyễn Việt Hùng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ QTKD Hình 1.6: Chi tiết HTĐĐĐN gián tiếp qua TI hạ thế trong tủ điện (Nguồn: Internet) - Công tơ, TU, TI, dây dẫn đấu nối, hòm công tơ: đo đếm ở cấp điện áp cao hay còn gọi là đo cao thế và có công suất tiêu thụ lớn.7: Sơ đồ đấu nối các thành phần của HTĐĐĐN trung thế (Nguồn: Giáo trình Đo lường điện. Tài liệu nội bộ của EVN HANOI) Các thành phần của HTĐĐĐN được đấu nối với nhau, các thành phần này có tầm quan trọng như nhau vì chỉ cần 1 thành phần nhỏ trong HTĐĐĐN bị sự cố thì ảnh hưởng đến kết quả đo đếm điện năng.