“021 thô đâu lil kiém wa hidu qua Chuong 4 SU DUNG NHIEN LIEU TIET KIEM VA HIEU QUA MỤC TIỂU Sau khi học xong chương 4, học sinh hệ trung cấp chuyên nghiệp khối ngành Kỹ thuật — Công nghệ có khả năng: Về kiến thức: — Phân tích tinh hình sản xuất xăng dầu ~ khí đốt trên thế giới và Việt Nam; — Nêu các ứng dụng chính của xăng dầu - khí đốt trong đời sống con người, — Phân tích hiện trang sử dụng xăng dầu ~ khí đốt trên thế giới và Việt Nam; Trình bày nguy cơ ô nhiễm môi trường và cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên khi khai thác, sử dụng xăng dầu, khí đốt; - Nêu các lưu ý để tiết kiệm xăng dầu khi vận hành tàu xe, các phương tiện vận tải; ~ Trinh bày các biện pháp tiết kiệm xăng dầu, khí đốt trong sản xuất; — Nêu các lưu ý để tiết kiệm xăng dầu, khí đốt trong sinh hoạt; — Phân tích tình hình sản xuất than và thực trạng tiêu thụ than ở Việt Nam; — Trình bày các biện pháp sử dụng than tiết kiệm và hiệu quả. Về kỹ năng: - Sử dụng xăng dầu - khí đốt, than trong sinh hoạt, sản xuất và nơi công cộng một cách tiết kiệm và hiệu quả. Về thái độ: ~ Nhận thức, tuyên truyền cho những người xung quanh về việc sử dụng xăng đầu - khí đốt, than một cách tiết kiệm và hiệu quả. SỬ DỤNG XĂNG DẦU - KHÍ ĐỐT TIẾT KIỆM HIỆU QUẢ 4.
Khai thác, sản xuất xăng dầu —- khí đốt 4. Quá trình sản xuất xăng dầu — khí đốt từ dầu mỏ Xăng đầu, khí đốt là những sản phẩm được chế biến từ dầu thô. Hiện nay, các ngành công nghiệp hiền quan đến dầu thô như thăm dò, 9] Gitta trinh gio dye se dung hăng đu (6F kiém wa hidu qua khai thác, chế biến, vận chuyển đang phát triển rất nhanh chóng, mang lại lợi ích kinh tế — chính trị rất to lớn cho nhiều quốc gia trên Thế giới. (1) Sơ lược về dầu mỏ Dầu mỏ (dầu thô) là một hỗn hợp lỏng, sánh, màu nâu đen, có mùi đặc trưng, nhẹ hơn nước và không tan trong nước.
Dầu mỏ được khai thác từ các mỏ dầu dưới lòng đất (trong lục địa cũng như ngoài thêm lục địa).1: Một dàn khoan khai thác dầu mỏ Thành phần hóa học của dầu mỏ : Dâu mỏ là một hỗn hợp phức tạp gồm hàng trăm hidrocacbon thuộc các loai ankan, xicloankan, aren (hidrocacbon thom). Ngoài hiđrocacbon ra, trong dầu mỏ còn có một lượng nhỏ các chất hữu co chứa oxi, nitơ, lưu huỳnh và các chất vô cơ với hàm lượng nhỏ. Dầu ở các mỏ khác nhau thường có thành phần các loại hiđrocacbon và các tạp chất rất khác nhau nhưng về thành phần nguyên tố thì thường như sau : 83 + 87% C, 11 + 14% H, 0,01 + 7%S, 0,01 + 2% N, các kim loại nặng vào khoảng phần triệu đến phần vạn. Các thành phần hóa học của dầu mỏ được chia tách bằng phương pháp chưng cất phân đoạn.
Các sản phẩm thu được từ việc lọc dầu có thể kể đến là dầu hỏa, benzen, xăng, sáp parafin, nhựa đường. 92 Chiang 4 Sie dung (ướnu đâu hal hiém Mở hidu qua Trong điều kiện thông thường, bốn alkan nhẹ nhất — CH¿ (mêtan), CH¿ (êtan), C:Hạ (prôpan) và C„H¡¿ (butan) — & dang khí, sôi ở nhiệt độ —161,6°C, -88,6°C, -42°C, và -0,5°C tương ứng (-258,9°, —127,5°, 413,67 và +31,1F). Các chuỗi trong khoảng Cs_; là các sản phẩm dầu mỏ nhe, dé bay hơi. Chúng được sử dụng làm dung môi, chất làm sạch bề mặt và các „án phẩm làm khò nhanh khác.
Các chuỗi từ C¿H¡¿ đến C,,H6 bi pha trộn lần với nhau được sử dụng trong đời sống với tên gọi là xăng. Dầu hỏa là hòn hợp của các chuỗi từ Cịc đến C¡s, tiếp theo là dầu di. 1/dâầu sưởi (C¡c đến Cao) và các nhiên liệu nặng hơn được sử dụng cÌ 1ø cơ tàu thủy. Tất cả các sản phẩm từ dầu mỏ này trong điều ki — nệt độ phòng là chất lỏng.
Các dầu bôi trơn và mỡ (dầu nhờn) (kể ca Vazơlin) nằm trong khoảng từ C¡„ đến Cao. Các chuỗi trên Cao tạo thành các chất rắn, bắt đầu là sáp parafin, sau đó là hắc ín và nhựa đường bitum. Khoảng nhiệt độ sôi của các sản phẩm dầu mỏ trong chưng cất phân đoạn trong điều kiện áp suất khí quyển tính theo độ C là: ~ Xăng ête: 40 — 70°C (được sử dụng như là dung môi) — Xăng nhẹ: 60 — 100°C (nhiên liệu cho ô tô) — Xăng nặng: 100 — 150ˆC (nhiên liệu cho ô tô) — Dầu hỏa nhe: 120 — 150°C (nhiên liệu và dung môi trong g:a đình) ~ Dầu hỏa: 150 — 300°C (nhiên liệu ) ~ Đầu diesel: 250 — 350°C (nhién liêu cho dong cơ điêzen/dầu sưởi) — Dầu bôi trơn: > 300°C (dầu bôi trơn động cơ) — Các thành phần khác: hắc ín, nhựa đường, các nhiên liệu khác (2) Phán loại dâu mỏ Ngành công nghiệp dầu mỏ phân chia "dầu thô” theo khu vực mà no xuat phat (vi du “West Texas Intermediate” (WTI) hay “Brent”) 93 Gitto tiink #giao due é se dung neg nangJ luong CONG (hố? (điên nà lưu4ƒ qua thông thường theo tỷ trọng và độ nhớt tương đối của nó ( “nhẹ”, “trung bình" hay "nặăng"); các nhà hóa đầu còn nói đến chúng như là “ngọt”, nếu nó chứa ít lưu huỳnh, hoặc là “chua“, nếu nó chứa đáng kể lưu huỳnh và phải mất nhiều công đoạn hơn để có thể sản xuất nó theo các thông số hiện hành. Các thùng (barre]) tiêu chuẩn trên thế giới là: — Hôn hợp Brent, bao gồm 15 loại dầu mỏ từ các mỏ thuộc hệ thong mo Brent va Ninian trong khu vutc long chao Déng Shetland trên biển Bắc.
Dầu mỏ được đưa vào bờ thông qua trạm Sullom Voe ở Shetlands. Dầu mỏ sản xuất ở châu Âu, châu Phi và dầu mỏ khai thác ở phía tây của khu vực Trung Cận Đông được đánh giá thco giá của dầu này, nó tạo thành một chuẩn đánh giá đầu. — West Texas Intermediate (WTI) cho dầu mỏ Bắc Mỹ. — Dubai được sử đụng làm chuẩn cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương của dầu mỏ Trung Cận Đông.
(3) Ché bién dau mo Hiên nay có hai hình thức chế biến dầu mỏ là: chưng cất và dùng phương pháp hóa học.1) Chưng cất dâu mỏ Chung cat là một trong hai phương pháp chế biến dầu mó. Thông qua quá trình chưng cất ta sẽ thu được các sản phẩm từ dầu mỏ như: dầu hóa, xăng, nhựa đường. Có các hình thức chưng cất dầu mỏ như sau: * Chung cất đầu mỏ dưới áp suất thường: — Chưng cất phân đoạn trong phòng thí nghiệm: Đề phân tách các chất có nhiệt độ sôi khác nhau không nhiều, người ta dùng phương pháp chưng cất phân đoạn. Ở cót cất phân đoạn, 94 Chung 4.
012 đựuyg điêu đệc liél kiém wi hibu qua hỗn hợp hơi càng lên cao càng giàu hợp phần có nhiệt độ sôi thấp, vì hợp phần có nhiệt độ sôi cao đã bị ngưng đọng dần từ dưới lên.3: Nhà máy chưng cất dầu mỏ — Chung cất phân đoạn dầu mỏ Sơ đỏ chưng cắt dầu mỏ và ứng dụng của các sản phẩm Hình 4.2: Sơ đồ chưng cất dầu mỏ và các sản phẩm tương ứng 95 Giao lrink 0 har bee dung mong “ng “él hiém wn Atéu qua Dầu khai thác từ mỏ lên gọi là dầu thô. Dầu thô sau khi sơ chế loại bỏ nước, muối được chưng cất ở áp suất thường trong các tháp chưng cất phân đoạn liên tục cao vài chục mét. Nhờ vậy người ta tách được những phân đoạn đầu có nhiệt độ sôi khác nhau. Các phân đoạn đó được đưa đi sử dụng hoặc được chế biến tiếp.
* Chưng cất dầu mỏ dưới áp suất cao : Phân đoạn sôi ở nhiệt độ < I80”C được chưng cất tiếp ở áp suất cao. Nhờ chưng cất ở áp suất cao, người ta tach được: — Phân đoạn C¡ - C;, C; — C¿ dùng làm nhiên liệu khí, hoặc khí hóa lỏng hoặc đắn sang nhà máy sản xuất hóa chất; — Phân đoạn lỏng (C; — Ca) gọi là ete dầu hỏa được dùng làm dung môi hoặc nguyên liệu cho nhà máy hóa chất; ¬ Phân đoạn C¿ — C¡o là xăng, nhưng thường có chất lượng thấp nên phải qua chế hóa bằng phương pháp rifominh. * Chưng cất dầu mỏ đưới áp suất thấp : Phần còn lại sau khi chưng cất ở áp suất thường (có thể chiếm tới 40% dầu thô) là một hỗn hợp nhớt đặc màu đen, gọi là cặn mazut. Khi chưng cất cặn mazut dưới áp suất thấp, ngoài phân đoạn linh động hơn dùng cho crackinh người ta thu được dầu nhờn (để bôi trơn máy), vazolin va parafin (dùng trong y dược, dùng làm nến.
Can den con lại gọi là atphan ding dé rai đường. Phân đoạn linh động (dùng cho cracking) Dấu nhờn (để bôi trơn máy móc) Căn Mazut Vazơlin (dùng trong y dược) Parafin (dùng làm nến) Atphan (dùng để rài đường) Hình 4.4: Các sản phẩm thu được từ căn mazut 96 Cheating 4. See dung ››Ôw đâu “¿7 hiém wn Aion qua Tất cả quá trình chưng cất đầu mỏ để tách lấy các sản phẩm như trình bày ở trên được gọi là tính cất, hoặc thông thường còn gọt là "loc dau".2) Chế biến dầu mỏ bằng phương pháp hóa học Chế biến dầu mỏ bằng phương pháp hóa học (nói gọn là chế hóa đầu mỏ) là biến đối cấu tạo hóa học các hiđrocacbon của đầu mỏ. Chế hóa dầu mỏ nhăm hai mục đích sau: — Đáp ứng nhu cầu về số lượng, chất lượng xăng làm nhiên liệu: chất lượng xăng được đo bằng chỉ số octan, chỉ số octan càng cao thì xăng càng tốt; — Dap ứng nhu cầu về nguyên liệu cho công nghiệp hóa chất: công nghiệp hóa chất cần nhiều ankan, aren để tổng hợp ra polime và các hóa phâm khác mà trong thành phần của dầu mỏ không có anken, thường có rất ít aren nhe.
Hai phương pháp chủ yếu chế hóa đầu mỏ là rifominh và crackinh 4. Hiện trạng khai thác và sản xuất dầu mỏ, khí đốt trên thế giới (1) Trữ lượng dâu mỏ trên thế giới Trên toàn thế giới, trữ lượng dầu có thể khai thác khoảng 1200 tỷ thùng. Với mức tiêu dùng như hiện nay, trữ lượng này dùng được khoảng 40 năm. Trong thập niên I950, nhà địa chất học người Mỹ là M.
King Hubbecrt đưa ra quan điểm "Đỉnh sản xuất" (Peak Oil) cia dau mo. Sau khi đạt tới đính sản xuất, mức sản xuất sẽ giảm dan va sé ngưng trong vòng 20 đến 30 năm sau. Đình sản xuất của Mỹ là thập niên 1970, của các nước không thuộc OPEC là 2010 và của OPEC là thập niên 2020. Đỉnh sản xuất là một quan điểm đang được bàn cãi rất sâu rộng.