Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lí luận Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả và thảo luận Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Kết luận 8 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN 2. Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa: 2. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa Thực tế trên thế giới, các nước có quan niệm rất khác nhau về DNNVV, nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khác nhau này là tiêu thức dùng để phân loại quy mô doanh nghiệp khác nhau, phần lớn các nước phân loại dựa trên quy mô vốn và số lượng lao động. Về cách thức phân loại DNNVV cũng khác nhau.
Có nước phân ra bốn loại doanh nghiệp như: doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp cực lớn. Có nước phân loại doanh nghiệp thành: doanh nghiệp siêu nhỏ (thường là kinh tế hộ gia đình), doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp lớn và DN cực lớn. Tùy vào đặc điểm của từng quốc gia, từng giai đoạn phát triển kinh tế mà những tiêu chí để xác định DNNVV có sự khác biệt và thay đổi để phù hợp. Theo quan niệm của Ngân hàng thế giới (WB), DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về phương diện vốn, lao động hay doanh thu.
DNNVV có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Trong đó, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động Tại Việt Nam căn cứ Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 về “Quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày 12/06/2017”. Theo đó, DNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký theo quy định của luật doanh nghiệp, được phân thành ba cấp: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm và doanh thu của năm, cụ thể như sau Bảng 2.2: Tiêu chí xác doanh nghiệp nhỏ và vừa Quy mô Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Khu vực 9 Số lao động Số lao động Số lao động Tổng Tổng nguồn Tổng bình quân và bình quân và bình quân và nguồn vốn vốn nguồn vốn doanh thu doanh thu doanh thu Nông nghiệp, lâm nghiệp, 10 người trở 100 người 200 người 100 tỷ thủy sản, xây 3 tỷ đồng xuống và 3 tỷ 20 tỷ đồng trở xuống và trở xuống và đồng trở dựng và công trở xuống đồng trở trở xuống 50 tỷ đồng 200 tỷ đồng xuống nghiệp xuống trở xuống trở xuống Thương mại, 10 người trở 50 tỷ đồng 50 người trở 100 tỷ 100 người dịch vụ 3 tỷ đồng xuống và 10 tỷ trở xuống xuống và đồng trở trở xuống và trở xuống đồng trở 100 tỷ đồng xuống 300 tỷ đồng xuống trở xuống trở xuống (Nguồn: Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018) 2. Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.
Thuận lợi Một là, DNNVV có tính năng động, nhạy bén và dễ thích nghi với sự thay đổi của thị trường. Với quy mô nhỏ và vừa, bộ máy quản lý gọn nhẹ, DNNVV dễ dàng tìm kiếm và đáp ứng những yêu cầu có hạn trong thị trường chuyên môn hóa. Mặt khác, DNNVV có mối liên hệ trực tiếp với thị trường và người tiêu thụ nên có phản ứng nhanh nhạy với sự biến động của thị trường. Hai là, DNNVV được thành lập dễ dàng, hoạt động có hiệu quả với chi phí cố định thấp.
Để thành lập một DN với quy mô nhỏ và vừa chỉ cần một số vốn đầu tư ban đầu tương đối ít, mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp. Vì vậy, DNNVV rất linh hoạt trong việc học hỏi, phát triển và tránh những thiệt hại to lớn do môi trường khách quan tác động lên. Mặt khác, một số DNNVV được thành lập mang tính gia đình, bạn bè nên mỗi khi gặp hoàn cảnh khó khăn, có thể tận dụng sức lao động để thay thế vốn bằng tiền dùng vào việc mua sắm máy móc thiết bị, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Điều này khiến cho DNNVV giảm được một phần chi phí cố định.
Ba là, DNNVV có thể phát huy được tiềm lực trong nước. DNNVV rất có lợi thế trong việc tận dụng các nguồn lực như: lao động, các nguồn tài nguyên, nguyên liệu sản xuất sẵn có tại địa phương. Từ đó, DNNVV có thể phát huy hết tiềm lực 1 trong nước cho sản xuất kinh doanh. Với vốn đầu tư và trình độ kỹ thuật của mình, DNNVV có thể sản xuất một số mặt hàng đơn giản thay thế hàng nhập khẩu, phù hợp với mức chi tiêu và thị hiếu của người dân ở địa phương góp phần ổn định đời sống, ổn định xã hội, phát triển kinh tế bền vững.
Bốn là, DNNVV góp phần tạo lập sự phát triển cân bằng giữa các vùng, miền trong một quốc gia. Với việc tạo lập dễ dàng, DNNVV có thể hiện diện khắp mọi nơi, kể cả ở nông thôn và miền núi, những nơi thưa dân, những nơi có cơ cấu kinh tế chưa phát triển và nhờ đó, họ cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho dân cư địa phương và những vùng phụ cận. Năm là, DNNVV góp phần tạo lập sự phát triển cân bằng giữa các vùng, miền trong một quốc gia. Với việc tạo lập dễ dàng, DNNVV có thể hiện diện khắp mọi nơi, kể cả ở nông thôn và miền núi, những nơi thưa dân, những nơi có cơ cấu kinh tế chưa phát triển và nhờ đó, họ cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho dân cư địa phương và những vùng phụ cận 2.
Hạn chế: Một là, khả năng tài chính của DNNVV hạn chế. DNNVV với khả năng tài chính hạn chế, quy mô kinh doanh không lớn nên khả năng tiếp cận các nguồn vốn giá rẻ của DN cũng rất hạn hẹp, vì DNNVV thường chỉ huy động nguồn vốn của người thân trong gia đình, bạn bè và thiếu TSBĐ cho khoản vay. Chính vì thế, phần lớn DNNVV luôn ở trong tình trạng thiếu vốn, khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh bị hạn chế. Hai là, DNNVV ít có khả năng thu hút được các nhà quản lý, lao động giỏi.
Với quy mô sản xuất kinh doanh không lớn, sản phẩm tiêu thụ không nhiều, DNNVV khó có thể trả lương cao cho người lao động. Vì vậy, DNNVV khó thu hút và giữ được những người lao động có trình độ cao tham gia vào trong quá trình sản xuất kinh doanh và trong quản lý, điều hành. Ba là, hoạt động của DNNVV thiếu vững chắc. Phần lớn ở các nước số lượng DNNVV phá sản, giải thể, ngừng hoạt động khá lớn, nhưng cùng với đó lại có rất nhiều DN mới được thành lập nên tổng số DNNVV vẫn tăng trưởng ổn định 1 qua các năm.
Chính điều đó đã không dẫn đến tình trạng xáo động nền kinh tế xã hội và cũng chính hiện tượng đó đã phản ánh sức sống mãnh liệt của DNNVV nói chung trong nền kinh tế. Ngoài ra, khả năng sản xuất hàng để phục vụ cho xuất khẩu của DNNVV còn hạn chế do chất lượng sản phẩm chưa cao; còn có hiện tượng trốn thuế, lậu thuế; hiện tượng chạy theo lợi nhuận quá mức, không quan tâm đến uy tín DN, vẫn còn tồn tại tâm lý sẵn sàng thành lập DN mới thay cho hoạt động của DN cũ. Bốn là, năng lực quản trị điều hành, quản trị tài chính của DNNVV còn nhiều hạn chế. Phần lớn đội ngũ lãnh đạo của DNNVV quản lý theo kinh nghiệm mà không được đào tạo bài bản, đa phần chủ DN không có kỹ năng quản trị DN khoa học, khả năng lập kế hoạch, phương án, dự án sản xuất – kinh doanh yếu dẫn đến khó khăn trong việc tìm kiếm, xây dựng phương án kinh doanh, cơ hội đầu tư khả thi, việc thiếu kiến thức về pháp luật cũng là trở ngại không nhỏ trong việc quản lý điều hành DN.
Bộ máy nhân sự thường thay đổi nên việc quản lý thiếu thống nhất, ổn định dẫn đến rủi ro. Năm là, năng lực cạnh tranh của DNNVV còn yếu kém. Do hạn chế về quy mô nhỏ, năng lực quản trị điều hành hạn chế, khả năng tài chính yếu kém, không có điều kiện đầu tư, đổi mới trang thiết bị, khó thu hút lao động có trình độ chuyên môn cao nên sản phẩm tạo ra có chất lượng thấp, giá trị gia tăng trong sản phẩm không cao làm giảm tính cạnh tranh trên thị trường, nhất là các thị trường có tiềm năng, cùng với việc chưa có uy tín và thương hiệu trên thị trường nên DNNVV gặp nhiều khó khăn trong cạnh tranh. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.
Đối với nền kinh tế: Theo báo cáo của Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa, hiện cả nước có khoảng 592.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa, chiếm 97% số doanh nghiệp đang hoạt động thực tế, với tổng số vốn đăng ký khoảng 130 tỷ USD, chiếm 1/3 tổng số vốn đăng ký của các doanh nghiệp. Nhóm DNNVV được xác định là “động lực tăng trưởng” và là “xương sống” của nền kinh tế khi hàng năm tạo thêm trên nửa triệu lao động 1 mới; sử dụng từ 60-70% lao động xã hội và đóng góp hơn 50% GDP, 33% thu nộp ngân sách Nhà nước, 35% giá trị sản lượng công nghiệp, 31% giá trị hàng hóa xuất khẩu,. DNNVV có vai trò rất lớn và ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam. DNNVV có vốn đầu tư ban đầu tuy không lớn nhưng được hình thành và phát triển rộng khắp ở cả thành thị cũng như nông thôn, ở hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực; tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo và là công cụ đắc lực trong việc duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống.
Đặc biệt, DNNVV có mặt ở mọi điểm trong các chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng dưới dạng nhà sản xuất, nhà cung cấp, nhà phân phối, đại lý; là nhà thầu phụ cho các đơn vị, doanh nghiệp lớn. Nhờ đó, DNNVV còn đóng góp những sáng kiến, cải tiến kỹ thuật hữu ích xuất phát từ yêu cầu trong hoạt động sản xuất hàng ngày. Đối với hoạt động ngân hàng: Mở rộng nền khách hàng: Thực trạng hiện nay trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng tại Việt Nam, tín dụng vẫn là hoạt động kinh doanh chính, đóng góp tỷ trọng lớn vào lợi nhuận của ngân hàng.