Chương 1 NHỮNG VÂN ĐỂ C ơ BẢN VỂ SẢN PHAM d ị c h v ụ NGÂN HÀNG THƯƠNG M ẠI 1. TỔNG QUAN VỂ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về Ngân hàng Thương mại Ngân hàng Thương mại còn được gọi là Ngân hàng ký thác là hình thái ngân hàng ra đời sớm nhất, gắn liền với sự xuất hiện của hoạt động Ngân hàng. Hoạt động của ngân hàng này chủ yếu là nhận tiền gửi của công chúng và thực hiện nghiệp vụ cho vay chiết khấu, kinh doanh tiền tệ và các hoạt động Ngân hàng khác.
Khác với Ngân hàng đầu tư và phát triển; các Tổ chức Tín dụng khác, Ngân hàng Thương mại chủ yếu cho vay ngắn hạn đối với khách hàng lá cá nhân và doanh nghiệp bằng nguồn vốn huy động tiền gửi là chính. Tuy nhiên, ngày nay khi mà cơ chế thị trường phát triển rộng khắp ở tất cả các nước trên thế giới thì hoạt động của các Ngân hàng Thương mại cũng có những thay đổi lớn không chỉ cho vay ngắn hạn mà còn đầu tư cho vay trung và dài hạn. Một số khái niệm về NHTM của các học giả như sau: * Thomas P.Fitch cho rằng: “Tổ chức ngân hàng là một Công ty nhận tiền gửi, thực hiện cho vay, thanh toán séc và thực hiện các dịch vụ liên quan cho công chúng. NHTM đầu tư quỹ từ các người gửi tiền để cho vay”.Rose đưa ra một khái niệm mới về ngân hàng: “Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” [18].
4 * ơ Việt Nam, Theo Luật các TCTD có sửa đổi năm 2004 [12], tại điều 20, khoản 1, 2 và 7 có khái niệm NHTM là loại hình TCTD được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán. Theo tính chất và phạm vi hoạt động các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác. Vậy, có thể hiểu Ngân hàng Thương mại theo một trong các khái niệm sau: - Ngân hàng Thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ tín dụng, trong đó chức năng chủ yếu là làm trung gian tín dụng giữa các doanh nghiệp, các cá nhân trong nền kinh tế.
- Ngân hàng Thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ và thực hiện các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng. - Ngân hàng Thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó đê cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Tóm lại, NHTM là một định chế trung gian tài chính, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực dịch vụ tiền tệ, tín dụng, thanh toán và các dịch vụ tiện ích ngân hàng khác trong thị trường tài chính. Vai trò đặc điểm của Ngân hàng thương mại * Chức n ă n g N H T M.
[9, 18] Vai trò quan trọng của các NHTM trong nền kinh tế có thể được minh hoạ thông qua các chức năng cơ bản của nó: 5 * Chức năng thủ quỹ xã hội: Vào những buổi ban đầu của quá trình hình thành và phát triển các NHTM đã thực hiện công việc chủ yếu là nhận ký thác tài sản bằng tiền, vàng và các tài sản có giá khác của các chủ thể trong nền kinh tế dưới nhiều hình thức khác nhau như: Tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm với nhiều mục đích khác nhau và giữ hộ nhiều tài sản tài chính khác. Mục đích gửi tài sản của khách hàng là đảm bảo sự an toàn, còn các NHTM thu được phí do việc giữ hộ tài sản, khi cần khách hàng có thể rút ra để chi tiêu. Ngân hàng bắt đầu sử dụng số tiền này để cho vay lấy lãi. Chênh lệch lãi suất cho vay và tiền gửi tạo nên thu nhập của ngân hàng.
Khi niềm tin ngân hàng được xác lập, khách hàng ký thác phần lớn cẩc nguồn thu nhập bằng tiền của mình cho Ngân hàng theo nhiều hình thức gửi tiền khác nhau và qua Ngân hàng họ sử dụng các dịch vụ thanh toán đáp ứng nhu cầu chi tiêu tài chính của mình. Ngoài ra, Ngân hàng còn có thể thu hộ các khoản tiền theo yêu cầu của khách hàng, giúp khách hàng tiết kiệm thời gian, đảm bảo an toàn tài sản. Như vậy, chức năng thủ quỹ xã hội của Ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng, là tiền đề, là bước khởi đầu tạo nguồn vốn để Ngân hàng thực hiện tốt các chức năng tín dụng và thanh toán. * Chức nâng trung gian tín dụng: Trên cơ sở chức năng thủ quỹ xã hội, các NHTM sử dụng nguồn vốn huy động để mở rộng tín dụng đối với khách hàng đáng tin cậy.
Ngay từ khi mới bắt đầu hoạt động những nhà lãnh đạo các NHTM đã luôn tìm kiếm các cơ hội để thực hiện việc cho vay, coi đó là chức năng quan trọng nhất của mình, và trong một số các trường hợp, việc cho vay đó được chính phủ bảo lãnh đối với một số nhu cầu tín dụng cụ thể trong các cộng đồng dân cư cụ thể. Để thực hiện tốt chức năng trung gian tín dụng, các NHTM thực hiện 6 một dịch vụ rất quan trọng đối với nền kinh tế bằng cách cung ứng những điều kiện thuận lợi để huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư, huy dộng vốn thanh toán trong các TCKT bằng cách tạo ra những hình thức tiền gửi phong phú để thu hút vốn. Số tiền huy động được thông qua các hình thức tiền gửi luôn sẵn sàng đáp úng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân nhằm mở rộng khả năng sản xuất và các mục đích sinh hoạt cá nhân như mua sắm hàng hoá tiêu dùng và nhà cửa. Với chức năng này, các NHTM đã và đang thực hiện chức năng xã hội của mình, làm cho sản phẩm xã hội tăng lên, vốn đầu tư được mở rộng và từ đó, đời sống dân chúng được cải thiện.
Ngân hàng thực hiện cấp tín dụng cho khách hàng với điều kiện khách hàng phải hoàn trả Ngân hàng cả vốn gốc và lãi vay khi đến hạn trả nợ. Như vậy, với tư cách là tổ chức trung gian tài chính, Ngân hàng đi vay để cho vay, tập trung các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội - thông qua hoạt động cho vay, đầu tư - Ngân hàng đưa vốn đến nơi cần thiết tạo ra hiệu quả kinh tế xã hội thiết thực. Rõ ràng, nguồn vốn tín dụng ngân hàng là nguồn vốn quan trọng, chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn hoạt động của các nhà sản xuất kinh doanh. * Chức năng thanh toán: Từ việc đưa ra một cơ chế thanh toán, hay nói một cách khác, sự vận động của vốn là một trong những chức năng quan trọng do các NHTM thực hiện và nó càng trở nên quan trọng khi séc và thẻ tín dụng được nhiều người tín nhiệm và sử dụng.
Ngân hàng theo lệnh của chủ tài khoản trích tài khoản thanh toán cho người được hưởng hoặc Ngân hàng nhận các nguồn tiền từ nơi khác chuyển vào tài khoản cho khách hàng. Trong những năm gần đây đã có những đổi mới quan trọng và được đưa vào sử dụng như nghiệp vụ ngân hàng không séc, nghĩa là sử dụng một số hình thức chuyển tiền bằng điện tử và chính điều 7 đó, có thể dẫn đến việc huỷ bỏ séc ngân hàng đã từng được sử dụng lâu nay và phần lớn các công việc liên quan. Các thực nghiệm đã được tiến hành với một hệ thống thẻ, giống như thẻ tín dụng ngân hàng, được sử dụng cho các máy tự động trong cửa hàng bán lẻ. Điều này có thể mạng hoá các máy tính trong các ngân hàng đặt khắp nơi trong nước và như vậy, nó thực hiện việc chuyên tiền từ tài khoản của người mua sang tài khoản của người bán.
Nét thuận lợi cơ bản của hệ thống này là hiện tại đã lắp đặt và sử dụng hệ thống máy tự động trong nhiều ngàn hàng và do đó, thẻ tín dụng ngân hàng có thể được sử dụng để rút tiền từ một tài khoản cụ thể, thực hiện việc gửi tiền và thanh toán nợ và chuyển vốn giữa tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tài khoản séc của cùng một chủ tài khoản. Chức năng thanh toán của Ngân hàng có ý nghĩa rất lớn trong nền kinh tế, nó giúp cho lưu thông tiền tệ thông suốt, nhanh chóng, an toàn, tiết kiệm tiền mặt và tiết kiệm chi phí. Chức năng này ngày càng được Ngân hàng phát triển đa dạng cả về hình thức, nội dung cũng như chất lượng thanh toán không dùng tiền mặt qua kênh ngân hàng. * Thực hiện chức năng tạo tiền của NHTM: Tạo tiền là kết quả của việc thực hiện chức năng trung gian tín dụng và chức năng thanh toán của hệ thống NHTM trong mối liên hệ với các thành phần kinh tế.
Quá trình thực hiện chức năng tín dụng, thanh toán hệ thống NHTM đã tạo ra bút tệ mang ý nghĩa to lớn trong tạo vốn đáp ứng cho nền kinh tế. Như vậy đặc điểm Ngân hàng thương mại là một sản phẩm được hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của xã hội loài người, nhưng không giống với nhiều sản phẩm khác, xét về mặt bản chất và các hành vi mà nó ứng xử, người ta coi NHTM như là một sản phẩm xã hội - một ngành công nghiệp dịch vụ, với tính cộng đồng và tính nhân văn rất cao, chằng chịt với vô số các mối liên hệ với đông đảo công chúng, không chí trải rộng trong một phạm vi một quốc gia mà còn lan toả trong phạm vi quốc tế.