MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Rừng vốn được mệnh danh là "lá phổi" của trái đất, rừng có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hàntinh chúng ta.Bởi vậy, bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôntrở thành một nội dung, một yêu cầu không thể trì hoãn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới trong cuộc chiến đầy gian khó hiện nay nhằm bảo vệ môi trường sống đang bị huỷ hoại ở mức báo động mà nguyên nhân chủ yếu là do chính hoạt động của con người gây ra. Trên phạm vi toàn thế giới, chỉ tính riêng trong vòng 4 thập niên trở lại đây, 50% diện tích rừng đã bị biến mất do nhiều nguyên nhân khác nhau. Theo tính toán của các chuyên gia của Tổ chức nông – lương thực thế giới (FAO) thì hàng năm có tới 11,5 triệu hecta rừng bị chặt phá và bị hoả hoạn thiêu trụi trên toàn cầu, trong khi diện tích rừng trồng mới chỉ vỏn vẹn 1,5 triệu hecta.
Rừng nguyên sinh bị tàn phá, đất đai bị xói mòn dẫn tới tình trạng sa mạc hoá ngày càng gia tăng. Nhiều loài động -thực vật, lâm sản quý bị biến mất trong danh mục các loài quý hiếm, số còn lại đang phải đối mặt với nguy cơ dần dần bị tuyệt chủng. Nghiêm trọng hơn, diện tích rừng thu hẹp trên quy mô lớn đã làm tổn thương "lá phổi"của tự nhiên, khiến bầu khí quyển bị ô nhiễm nặng, mất cân bằng, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người và đời sống động, thực vật. Là một quốc gia đất hẹp người đông, Việt Nam hiện nay có chỉ tiêu rừng vào loại thấp, chỉ đạt mức bình quân khoảng 0,14 ha rừng, trong khi mức bình quân của thế giới là 0,97 ha/ người.
Các số liệu thống kê cho thấy, đến năm 2000 nước ta có khoảng gần 11 triệu hecta rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm h 2 khoảng 9,4 triệu hecta và khoảng 1,6 triệu hecta rừng trồng; độ che phủ của rừng chỉ đạt 33% so với 45% của thời kì giữa những năm 40 của thế kỉ XX. Tuy nhiên, nhờ có những nỗ lực trong việc thực hiện các chủ trương chính sách của Nhà nước về bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, "phủ xanh đất trống đồi núi trọc" nên nhiều năm gần đây diện tích rừng ở nước ta đã tăng 1,6 triệu hecta so với năm 1995, trong đó rừng tự nhiên tăng 1,2 triệu hecta, rừng trồng tăng 0,4 triệu hecta. Công tác quản lí, quy hoạch tài nguyên rừng cũng có những chuyển động tích cực. Trên phạm vi cả nước đã và đang hình thành các vùng trồng rừng tập trung nhằm cung cấp nguyên liệu cho sản xuất Mặc dù có những kết quả tích cực trong quy hoạch, sản xuất cũng như trong bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng, song nhìn chung chất lượng rừng ở nước ta hiện nay vẫn còn rất thấp, rừng nước ta đã ít mà trong đó có tới hơn 6 triệu hecta rừng nghèo kiệt, năng suất rừng trồng còn thấp.
Công tác trồng mới và phát triển tài nguyên rừng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong 6 tháng đầu năm 2018, toàn tỉnh Hà Giang đã phát hiện 157 vụ vi phạm lâm luật, giảm 8 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã xử lý 147 vụ, tịch thu 65 m3 gỗ và xử phạt hành chính trên 800 triệu đồng. Nhằm đẩy mạnh công tác trồng rừng, trong những tháng còn lại của năm 2018, tỉnh Hà Giang tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người dân tiếp tục triển khai công tác trồng rừng. Bên cạnh đó, tỉnh cũng đề ra các chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho các hộ tham gia đầu tư và bảo vệ các diện tích rừng đã trồng; đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp sử dụng đất lâm nghiệp không đúng mục đích.
Đặc biệt nguồn tài nguyên rừng tỉnh ta vẫn tiếp tục đứng trước những nguy cơ nghiêm trọng như bị huỷ hoại, suy thoái, giảm sút và mất dần tính đa dạng sinh học của rừng đã thực sự là những lời cảnh báo nghiêm khắc đối với con người trong "sứ mệnh"công tác bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng nói riêng và bảo vệ môi trường sống của con người nói chung. h 3 Xã Tả Nhìu là một xã miền núi nằm ở phía đông của huyện xín mần, có diện tích đất tự nhiên là 14.454,33 ha,tổng diện tích đất lâm nghiệp là 8.272,665 ha, trong đó diện tích rừng phòng hộ là 5.515,11ha, rừng sản xuất là 2.757,55ha, Trong những năm gần đây, do điều kiện kinh tế - xã hội đang phát triển, được Đảng và Nhà nước quan tâm xã đã áp dụng nhiều văn bản pháp luật, các chương trình dự án nhằm bảo vệ và phát triển rừng, sự nỗ lực đó đã đạt được hiệu quả tích cực là độ che phủ tán rừng tăng lên hàng năm. Tuy nhiên hiện nay chất lượng rừng, công tác bảo vệ rừng của người trong xã vẫn còn chưa cao.Vì vậy em chọn đề tài “Nghiên cứu giải pháp nâng cao công tác bảo vệ phát triển rừng tại xã Tả Nhìu, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang”là rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1.
Mục tiêu chung - Nghiên cứu thực trạng đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng góp phần che phủ rừng.Đề xuất những giải pháp nhằm khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào bảo vệ rừng. Nâng cao nhận thức cho người dân về hiện trạng của mình, ý thức trồng và bảo vệ rừng của người dân cán bộ trong việc bảo vệ và phát triển rừng tại xã Tả Nhìu, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của xã Tả Nhìu, huyện Xín Mần - Nghiên cứu thực trạng công tác bảo vệ, phát triển rừng tại xã Tả Nhìu, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang. - Tìm hiểu được những thuận lợi và khó khăn trong công tác bảo vệ và phát triển rừng tại xã Tả Nhìu, huyện xín Mần, tỉnh Hà Giang.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng tại xã Tả nhìu, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.Ý khoa học - Các kết luận của đề tài có thể tham khảo để sử dụng cho việc giảng dạy, học tập trong nhà trường, phục vụ cho công tác nghiên cứu của các đối tượng khác có quan tâm. Ý nghĩa thực tiễn - Đề tài giúp sinh viên vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn - Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho địa phương, đồng thời phát huy những điểm mạnh, khắc phục những hạn chế yếu kém trong quá trình bảo vệ và phát triển rừng vào thời gian tới. - Là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác bảo vệ phát triển rừng và đề xuất các giải pháp nâng cao công tác bảo vệ phát triển rừng.
h 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Khái niệm về rừng - Rừng là quần xã sinh vật trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu. Quần xã sinh vật phải có diện tích đủ lớn. Giữa quần xã sinh vật và môi trường, các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác.[8] - Năm 1930, Morozov đưa ra khái niệm: Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một vị trí không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển.
Rừng chiếm phần lớn bề mặt trái đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý. Tcachenco phát biểu: Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật. Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau với hoàn cảnh bên ngoài. - Rừng là bộ phận cảnh quan địa lý, được tạo bởi tổng thể lớn các cây gỗ, giữa chúng có mỗi quan hệ chặt chẽ.
- Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004 /29 2004/QH11 Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ.[6] - Hoặc nói cách khác rừng là một hệ sinh thái, là nơi sinh sống của các loài thực vật, động vật, nấm và vi sinh vật, những thành phần này của rừng có mối liên hệ mật thiết với nhau. Phân loại - Theo quy định tại Luật lâm nghiệp(có hiệu lực từ 01/01/2019) thì nội dung này được quy định như sau. - Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, rừng tự nhiên và rừng trồng được phân thành 02 loại như sau.
Rừng phòng hộ. Rừng sản xuất. + Rừng phòng hộ:Được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, sạt lở, lũ quét, lũ ống, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh, kết hợp du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; cung ứng dịch vụ môi trường rừng + Rừng sản xuất: được sử dụng chủ yếu để cung cấp lâm sản; sản xuất, kinh doanh lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp; du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Vai trò của rừng 2.
Giá trị và vai trò của rừng đối với môi trường - Rừng được ví như lá phổi xanh của trái đất bởi chúng có nhiều cây xanh, mà cây xanh trong quá trình quang hợp đã hấp thụ khí cacbonic và nhả ra khí oxi, đây là nguồn cung cấp phần lớn oxi để đảm bảo sự sống của con người và các loại sinh vật khác trên Trái đất [10]. - Ngoài cung cấp khi oxi để duy trì sự sống, cây xanh của rừng còn có tác dụng lọc sạch không khí, giữ lại bụi bẩn và tiêu diệt các vi trùng gây hại trong không khí. Mang đến một không khí trong lành hơn cho con người và các loài sinh vật khác. - Ngoài ra rừng còn là nơi sinh sống của rất nhiều các loại động thực vật khác nhau, trong đó có rất nhiều loài quý hiếm.