CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ XÂY DỰNG ĐẬP ĐẤT VÀ CÁC VẤN ĐỀ AN TOÀN ĐẬP 1.Tổng quan về tình hình xây dựng đập đất ở Việt Nam Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều hồ chứa, trong đó đa số các đập đầu mối đều là đập đất. Đập được xây dựng bằng các loại đất có tác dụng dâng nước và giữ nước nhưng không cho phép để nước tràn qua được gọi là đập đất. Đập đất là loại đập sử dụng vật liệu địa phương. Tính đến nay, nước ta đã xây dựng được trên 6500 hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích trữ nước khoảng 11 tỷ m3.
Trong đó có 560 hồ chứa có dung tích trữ nước lớn hơn 3 triệu m3 hoặc đập cao trên 15m, 1752 hồ có dung tích từ 0,2 triệu đến 3 triệu m3 nước, còn lại là những hồ đập nhỏ có dung tích dưới 0,2 triệu m3 nước. Đặc điểm chung của các hồ chứa thủy lợi là đập chính ngăn sông tạo hồ, đại đa số là đập đất. Nhìn nhận chung, hơn một nửa trong tổng số hồ đã được xây dựng và đưa vào sử dụng trên 25 ÷ 30 năm, nhiều hồ đã bị xuống cấp. Một số đập đất ở Việt Nam được thống kê như bảng 1.1 dưới đây: Bảng 1.1 - Một số đập đất đá đã được xây dựng ở Việt Nam[1] STT Tên công trình Loại đập Chiều cao (m) 1 Hàm Thuận(đập phụ) đất, đồng chất 58,00 2 Thác Mơ (đập chính) đất- đá hỗn hợp 48,00 3 Thác Mơ (Đức Hạnh) đất, đồng chất 46,00 4 Trị An (đập chính) đất-đá hỗn hợp 45,00 5 Đa Nhim (Đơn Dương) đất, đồng chất 43,00 6 Trị An (Suối Rộp) đất, đồng chất 42,00 7 Cấm Sơn (Bắc Giang) đất 42, 00 8 Sông Sắt (Ninh Thuận) đất, đồng chất 34,00 9 Tân Sơn (Gia Lai) đất, đồng chất 27, 50 10 Thượng Tuy (Hà Tĩnh) đất, đồng chất 24, 50 11 Đồng Ngư (Thanh Hóa) đất, đồng chất 23, 00 12 Đại Lải (Vĩnh Phúc) đất, tường nghiêng 20, 00 13 Đồng Mô (Sơn Tây) đất, hỗn hợp 17, 50 4 Đập đất rất đa dạng, và việc lựa chọn biện pháp thi công hay lựa chọn kết cấu mặt cắt ngang hoặc chọn biện pháp chống thấm đều ảnh hưởng đến an toàn thấm cũng như an toàn đập.
Theo phương pháp thi công, đập có thể phân thành: - Đập đất đầm nén là loại đập mà thân đập được làm chặt bằng cách đầm nén theo từng lớp. - Đập đất bồi là loại đập mà tất cả các khâu khai thác, vận chuyển và bồi đất lên thân đập được tiến hành theo phương pháp cơ giới thủy lực. - Đập đất đắp bằng cách đổ đất trong nước được thi công bằng cách cho nước vào trong các ô trên mặt đập rồi đổ đất vào các ô đó. - Đập đất đắp bằng phương pháp nổ mìn định hướng, tức là cho nổ mìn theo hướng định trước để đưa những khối đất lớn ở hai bên bờ vào lấp sông và tạo thành đập.
Theo kết cấu mặt cắt ngang, đập đất có thể phân làm 4 loại: - Đập đất đồng chất: đập được xây dựng bằng một loại đất như cát, á cát, á sét v. - Đập hỗn hợp (đập nhiều khối): đập xây dựng bằng nhiều loại đất có tính chất cơ lý khác nhau. Đối với đập hỗn hợp có thể bố trí các loại đất trong thân đập như sau: đất có tính chống thấm tốt đặt ở phía thượng lưu, hoặc ở giữa thân đập. Đập đất hỗn hợp đất đá là vật liệu gồm đất và đá.
- Đập có tường nghiêng: đập có thiết bị chống thấm nằm nghiêng theo mái dốc thượng lưu. Thiết bị chống thấm có thể làm bằng loại vật liệu dẻo như sét, á sét hoặc làm bằng vật liệu cứng như bê tông cốt thép, thép, gỗ v. - Đập có lõi giữa: đập có thiết bị chống thấm nằm giữa thân đập. Thiết bị chống thấm có thể là vật liệu dẻo, hoặc cứng.
Theo thiết bị chống thấm ở nền đập được chia thành các loại sau: - Đập có tường răng: trường hợp tầng nền thấm nước không sâu lắm thì có thể xây dựng tường răng làm vật chống thấm trong nền đập. Thân đập là đồng chất hoặc có 5 tường nghiêng hay lõi giữa, đều có thể dùng tường răng để chống thấm cho nền. Tường răng có thể làm bằng loại vật liệu xây dựng thân đập hoặc các vật liệu có tính chống thấm tốt hơn. - Đập có bản cọc: bản cọc dùng trong trường hợp nền thấm nước không phải là đá.
Nếu tầng thấm nước tương đối sâu và có hạn thì bản cọc có thể cắm xuống tận tầng không thấm còn nếu tầng thấm nước rất sâu hoặc vô hạn thì bản cọc chỉ đóng xuống một giới hạn nhất định. - Đập được khoan phụt tạo màng xi măng chống thấm: dùng màng xi-măng để chống thấm trong trường hợp nền đá bị nứt nẻ. Tùy theo độ sâu của tầng đá bị nứt nẻ và khả năng thi công màng xi-măng, màng xi-măng có thể cắm xuống tận tầng đá chắc hoặc chỉ sâu một giới hạn nhất định. - Đập có sân trước: trong trường hợp nền thấm nước rất dày thì có thể dùng hình thức chống thấm cho nền là sân trước.
Sân trước có thể làm bằng vật liệu xây dựng đập đồng chất hoặc vật liệu như tường nghiêng, lõi giữa. Hiện nay, chúng ta đang phải rà soát và đánh giá an toàn rất nhiều đập đất của các hồ chứa nước, đặc biệt là công trình đã được xây dựng trong giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1975. Thực trạng hiện nay, phần nhiều chưa thật an toàn về chống thấm qua thân đập và qua nền đập hoặc qua các vai đập. Nhiều đập sau một thời gian làm việc thường bộc lộ các hiện tượng thiếu ổn định thấm dẫn đến rò rỉ, mạch lùng, như Núi Một (năm 1996 – 1998), Phú Ninh (sau lũ tháng 12/1999), đập hồ Núi Cốc (2017).
Có công trình mới xây dựng đã rò thấm dẫn đến sự cố như Suối Hành (1986), Am Chúa (1993), Cà Giây (1998), Sông Trâu (2005), Sông Sắt (2008). Thực tế một số công trình đã đánh giá cho thấy việc nâng cấp sữa chữa là cần thiết vì hầu hết các công trình này đều xuất hiện các hiện tượng bất thường và thông qua tính toán có thể mất an toàn nếu không được xử lý. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và PTNT thì hiện nay đang có khoảng 1200 hồ chứa có đập đất đã đến thời kỳ xuống cấp cần phải được tu bổ, nâng cấp sửa chữa. Một trong những tiềm ẩn chính ở các đập đất cần nâng cấp sữa chữa là việc nguy cơ mất an toàn về thấm dẫn đến mất an toàn về đập.
Việc đánh giá an toàn thấm hết sức quan trọng, tuy nhiên lại rất khó để đánh giá hết được, vì vậy việc nghiên 6 cứu an toàn thấm để ứng dụng trong thiết kế thi công đập đất mới và nâng cấp sữa chữa là hết sức cần thiết. Xu thế về việc lựa chọn sử dụng đập đất ở Việt Nam vẫn rất tiềm năng vì đập đất có nhiều ưu điểm phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của nước ta. Đặc biệt, hiện nay bằng nguồn vốn trái phiếu chính phủ, Bộ NN&PTNT tiếp tục đầu tư xây dựng mới nhiều hồ chứa có qui mô lớn và vừa. Đồng thời ở các địa phương, UBND tỉnh cũng đầu tư xây dựng các hồ chứa vừa có dung tích từ (1 ÷ 10) triệu m3 nước.
Các hồ nhỏ phần lớn do huyện, xã, hợp tác xã, nông trường tự bỏ vốn xây dựng và quản lý kỹ thuật. Để có sự bền vững về an toàn hồ chứa lâu dài thì ngay những bước đầu tiên khi tiến hành thiết kế, thi công đập đất mới, chúng ta cần quan tâm và chú trọng nghiêm túc trong việc đánh giá an toàn thấm cũng như an toàn đập, đặc biệt các hồ chứa vừa và nhỏ trước nay vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Dưới đây là một số hình ảnh về các công trình đập đất đã xây dựng ở nước ta: Hình 1.1 -Đập đất đồng chất hồ chứa nước Liệt Trì, tỉnh Quảng Ngãi 7 Hình 1.2-Đập đất đồng chất hồ chứa nước đập Làng, tỉnh Hà Tĩnh (2014) 1. Các yếu tố ảnh hưởng đến an toàn đập đất Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến an toàn đập đất.
Có thể kể đến các yếu tố chính như mực nước thượng, hạ lưu; bùn cát bồi lắng phía thượng lưu; mưa, sóng, gió, nhiệt độ, vật nổi, động đất, địa chất vai và nền đập, địa hình lòng sông. Khi tính toán thiết kế đập đất cần tính hết các yếu tố và tổ hợp ảnh hưởng của chúng đối với công trình.Các nguy cơ mất an toàn đập do thấm[2] Thấm gây ra hư hỏng cục bộ trong đập và nền là hiện tượng thường gặp ở phần lớn các đập đất đang hoạt động. Chúng thuộc loại nguy cơ tiềm ẩn mà lâu dài có thể dẫn đến sự cố về đập. Sự phá huỷ ngầm của thấm diễn ra ở bên trong (không phát hiện được) một cách lặng lẽ, thường kéo dài trong nhiều năm nên khi bùng phát ra sự cố thường rất khó khắc phục.
Tuy nhiên, nếu quản lý chặt chẽ, thường xuyên quan sát thì có thể 8 nhận biết được bằng mắt thường qua các biểu hiện như: mái hạ lưu bị ướt, vùng thềm sau đập bị lầy hoá các hố sụt, võng trên mặt đập, sự phát sinh các dòng chảy có mang theo đất,. để tiến hành ngăn chặn ngay từ đầu. Có thể kể đến các nguy cơ mất an toàn đập do thấm điển hình như sau: 1. Sự cố thấm trong thân và nền đập Nền đập và thân đập nói chung đều thấm nước.
Sự cố thấm trong thân và nền đập bắt nguồn từ sự phát triển dòng thấm tuân theo định luật Đacxi chuyển dần sang sự hình thành dòng chảy tự do (chảy rối). Chịu áp lực của cột nước thượng lưu, dòng chảy này ngày càng tăng lên cả lưu lượng lẫn lưu tốc vì quá trình chảy luôn cuốn theo các thành phần hạt nhỏ làm cho đường chảy luôn mở rộng. Sự phát triển đường chảy gây sập lở vùng chuyển tiếp đắp bằng các vật liệu thô tạo nên các hang rỗng và đến một thời điểm khi vận tốc, lưu lượng nước đủ mạnh thì phávỡ cửa ra ở hạ lưu, lấn dần vào thân đập. Nếu không xử lý kịp thời có thể dẫn đến vỡ đập.
Trong thiết kế cần quan tâm một số vấn đề sau: - Cần xem xét kỹ gradien thấm trên toàn mặt cắt đập ứng với các trường hợp bình thường và bất lợi. Cần lưu ý xem xét gradien thấm ở một số vị trí đặc biệt so với gradien cho phép (vùng tiếp xúc của các khối, vùng dòng thấm bị đổi hướng, vùng ra của đường thấm trên mái hoặc vào lọc, .