CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về Marketing 1. Khái niệm về Marketing Trong thời đại ngày nay, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng, sản xuất ứng dụng thành tựu khoa học hiện đại làm cho việc thỏa mãn nhu cầu trở nên nhanh chóng. Đồng thời, xã hội tiêu dùng phát triển, cạnh tranh ngày càng trở lên gay gắt ở các quốc gia, giá cả biến động, rủi ro kinh doanh lớn,việc tiêu thụ hàng hóa khó khăn.
Chính vì vậy, các nhà kinh tế, kinh doanh đã nhận thấy tầm quan trọng của Marketing. Đã có rất nhiều cách hiểu về Marketing, mỗi cách hiểu đều dựa trên những cơ sở nhất định. Lindon: “ Marketing là toàn bộ những phương tiện mà các doanh nghiệp sử dụng để xây dựng, bảo vệ và phát triển thị trường của họ, hoặc những khách hàng của họ” ( PGS. Nguyễn Thị Minh Hiền - ThS.
Nguyễn Thị Hưng, biên soạn, 2015) Đối với D. Larue: “ Marketing là toàn bộ những hoạt động có mục tiêu dự đoán hoặc cảm nhận, khuyến khích, khêu gợi làm nảy sinh những nhu cầu của người tiêu dùng về một loại sản phẩm, dịch vụ nào đó, thực hiện sự thích ứng liên tục của bộ máy sản xuất và bộ máy thương mại của một doanh nghiệp đối với những nhu cầu đã được xác định” ( PGS. Nguyễn Thị Minh Hiền - ThS. Nguyễn Thị Hưng , biên soạn, 2015) Theo quan điểm của P.
Kotler – cha đẻ của ngành Marketing: “Marketing là hoạt động của con người hướng tới việc thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi” ( PGS. Nguyễn Thị Minh Hiền- ThS. Nguyễn Thị Hưng, biên soạn, 2015) Marketing được hình thành và phát triển dựa trên những khái niệm căn bản: nhu cầu, mong muốn, yêu cầu, sản phẩm, trao đổi, giá trị, sự thỏa mãn của khách hàng, thị trường,… 3 Nhu cầu của con người: là một trạng thái cảm giác thiếu hụt một sự thỏa mãn cơ bản nào đó. Người ta cần có thức ăn, quần áo, nơi ở, sự an toàn, của cải, sự quý trọng và những thứ khác để tồn tại.
Những nhu cầu này không phải do xã hội hay do người làm marketing tạo ra. Chúng tồn tại như một bộ phận không thể thiếu trong đời sống của mỗi con người, là điều kiện đảm bảo cho sự tồn tại của con người. Nguyễn Thị Minh Hiền - ThS. Nguyễn Thị Hưng, biên soạn, 2015) Mong muốn: là sự ao ước có được những thứ cụ thể để thỏa mãn những nhu cầu một cách cụ thể, sâu xa hơn.
Ở xã hội khác nhau thì những nhu cầu sẽ được thỏa mãn theo một cách khác. Trong khi, nhu cầu của con người thì ít còn mong muốn thì lại càng nhiều. Nguyễn Thị Minh Hiền - ThS. Nguyễn Thị Hưng, biên soạn, 2015) Yêu cầu: là mong muốn có được những sản phẩm cụ thể được sự hậu thuẫn của khả năng và thái độ sẵn sàng mua chúng.
Mong muốn chỉ trở thành yêu cầu khi có sức mua hỗ trợ. Do đó, nhiệm vụ của một người làm marketing không chỉ xác định lượng người mong muốn có sản phẩm của công ty mà còn phải định lượng số người thực sự sẵn sàng và có khả năng mua nó. Nguyễn Thị Minh Hiền - ThS. Nguyễn Thị Hưng, biên soạn, 2015) Sản phẩm: là bất cứ thứ gì có thể đem chào bán để thỏa mãn một nhu cầu hay mong muốn.
Nguyễn Thị Minh Hiền - ThS. Nguyễn Thị Hưng, biên soạn, 2015) Trao đổi: là hành động tiếp nhận một sản phẩm mong muốn từ một người nào đó bằng cách đưa cho họ những thứ gì đó. Nguyễn Thị Minh Hiền - ThS. Nguyễn Thị Hưng, biên soạn, 2015) Trao đổi chỉ xảy ra khi thỏa mãn đủ các điều kiện sau: ít nhất phải có hai bên, mỗi bên phải có một thứ gì đó có thể có giá trị đối với bên kia, mỗi bên phải có khả năng tự giao dịch và chuyển giao hàng hóa của mình, mỗi bên đều có quyền tự do chấp nhận hay khước từ lời đề nghị của bên kia, mỗi bên đều tin chắc là trao đổi sẽ đem lại lơi ích hơn.
Chính vì vậy, trao đổi được xem như là quá trình tạo ra giá trị. Giá trị: là sự đánh giá của người tiêu dùng về khả năng chung của sản phẩm, thỏa mãn tập nhu cầu của mình. Nguyễn Thị Minh Hiền - ThS. Nguyễn Thị Hưng, biên soạn, 2015) 4 Sự thỏa mãn của khách hàng: là mức độ thuộc về trạng thái cảm giác của khách hàng bắt nguồn từ việc so sánh kết quả sản phẩm hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp so với những kỳ vọng mà họ đặt ra.
Nguyễn Thị Minh Hiền - ThS. Nguyễn Thị Hưng, biên soạn, 2015) Thị trường: bao gồm tất cả các khách hàng hiện tại và tiềm năng cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn đó. Nguyễn Thị Minh Hiền - ThS. Nguyễn Thị Hưng, biên soạn, 2015) 1.
Chức năng của Marketing 1. Chức năng thích ứng Bộ phận Marketing luôn luôn phải tìm hiểu nhanh chóng, kịp thời, chính xác về xu hướng thay đổi nhu cầu tiêu dùng, sản xuất, công nghệ của thị trường trong nước và thế giới. Không chỉ vậy, Marketing còn có vai trò quan trọng trong việc liên kết, phối hợp, hợp tác các bộ phận khác nhau của công ty như nghiên cứu, thiết kế, bán hàng, tài chính,…nhằm kích thích tiêu dùng và tăng sự thích ứng của sản phẩm trên thị trường so với đối thủ cạnh tranh. Cùng đó, các họat động tuyên truyền, quảng cáo marketing cần gợi mở, thay đổi thói quen và cơ cấu tiêu dùng của khách hàng nhằm hướng đến sự hòa nhập phù hợp với trào lưu tiêu dùng của thế giới.
Chức năng phân phối Với mục đích nhằm tổ chức sự vận động tối ưu sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ từ sản xuất đến tận tay người tiêu dùng cuối cùng được đảm bảo hiệu quả nhất, bộ phận Marketing phải không ngừng phấn đấu, tập trung vào các công việc cụ thể. Trước tiên, cần phải nghiên cứu và lựa chọn các trung gian phù hợp mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Tiếp đó là các công việc : hướng dẫn khách hàng về các thủ tục và điều kiện có liên quan đến hoạt động phân phối; tham gia thực hiện tổ chức vận chuyển hàng hóa nhằm đảm bảo tối ưu điều kiện giao hàng và cước phí; bố trí sắp xếp hệ thống kho hàng của công ty một cách khoa học và phù hợp để khả năng tiếp nhận, bảo quản và giải tỏa hàng hóa nhanh nhất có thể; tổ chức các hoạt động dịch vụ hỗ trợ cho hệ thống kênh phân phối và khách hàng đẩy nhanh tốc độ tiêu 5 thụ sản phẩm. Cuối cùng, bộ phận Marketing điều hành và giám sát toàn bộ hệ thống kênh phân phối bao gồm số lượng, khả năng cung ứng, tốc độ lưu chuyển và dự trữ hàng hóa,…nhằm đảm bảo đáp ứng đầy đủ nhu cầu của thị trường.
Chức năng tiêu thụ Có thể hiểu rằng: “ chức năng tiêu thụ chính là toàn bộ những hoạt động liên quan trực tiếp đến việc mua, bán hàng hóa trên thị trường, thể hiện mức độ đáp ứng nhu cầu và việc hoàn thành kế hoạch kinh doanh của công ty” ( PGS. Nguyễn Thị Minh Hiền - ThS. Nguyễn Thị Hưng, biên soạn, 2015) Quá trình thực hiện chức năng tiêu thụ bao gồm: xác định các yêu cầu bắt buộc khi xây dựng chính sách giá cho doanh nghiệp; lựa chọn các phương pháp xác định giá thích hợp; thiết lập các chế độ về chiết khấu, chênh lệch; quy định thời hạn thanh toán và các điều kiện ứng dụng; xây dựng chính sách giá ưu đã phân biệt; các chế độ kiểm soát giá; đào tạo nghiệp vụ và nghệ thuật bán hàng. Chức năng yểm trợ Vai trò chức năng yểm trợ: nhằm thông tin tuyên truyền, yểm trợ cho sản phẩm, gây ảnh hưởng tâm lý đến khách hàng với mục đích thay đổi đường cung lượng cầu của họ.
Chức năng yểm trợ bao gồm các hoạt động: quảng cáo; xúc tiến bán hàng; xây dựng mối quan hệ công chúng; tổ chức hội chợ, hội nghị, hiệp hội, hội thảo,… Trong bốn chức năng của Marketing, chức năng thích ứng có vị trí trung tâm nhằm liên kết và phối hợp các chức năng còn lại. Đồng thời, nó có vai trò quyết định hoạt động và hiệu quả của ba chức năng với mục tiêu tối ưu hóa lợi nhuận của công ty trên cơ sở thỏa mãn tốt nhất nhu cầu cảu khách hàng. Vai trò của Marketing trong kinh doanh Đối với các công ty, Marketing là một công cụ quan trọng trong việc quản lý hoạt động kinh doanh và sử dụng nó để xác định chiến lược kinh doanh của công ty. Trong nền kinh tế thị trường, các chức năng : sản xuất, tài chính, quản trị nhân lực,… chưa đủ đảm bảo cho công ty tồn tại và cũng không đủ cơ sở đảm bảo chắc chắn sự thành đạt của công ty, nếu tách rời khỏi chức năng kết nối mọi hoạt động của công ty đối với thị trường.
Đây chính là chức năng của Marketing. 6 Marketing thực hiện nhiệm vụ kết nối các hoạt động kinh doanh của công ty ( sản xuất, tài chính, nhân lực,…) với thị trường, lấy thị trường, nhu cầu, ước muốn của khách hàng là căn cứ quan trọng nhất cho mọi quyết định kinh doanh – yếu tố dẫn đến sự thành công cho các công ty. Marketing có nhiệm vụ tạo ra khách hàng cho công ty nhưng vai trò này chỉ được thực hiện khi các hoạt động của Marketing phối hợp hài hòa đồng bộ với các hoạt động sản xuất, tài chính, nhân lực,…. Đồng thời, công ty cần phải tổ chức các kênh phân phối thuận tiện, cung cấp thông tin để người tiêu dùng hiểu rõ về sản phẩm và công ty.
Nội dung chủ yếu của hoạt động Marketing trong việc thúc đẩy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 1. Phân tích môi trường Marketing 1. Môi trường vĩ mô a. Yếu tố dân số.
- Quy mô và tốc độ tăng dân số tác động trực tiếp tới quy mô nhu cầu. Dân số lớn và tốc độ tăng cao tạo ra một thị trường tiềm năng rộng lớn. - Cơ cấu dân số là yếu tố quyết định đến cơ cấu khách hàng tiềm năng. Yếu tố này thay đổi sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự thay đổi cơ cấu nhu cầu của các hàng hóa, dịch vụ cụ thể và đặc tính của nhu cầu.
- Sự thay đổi quy mô hộ gia đình tác động mạnh mẽ đến nhu cầu thị trường nhiều hàng hóa. Ngày nay, giới trẻ thường có mong muốn sống tự lập, phần lớn họ sống theo quy mô hộ gia đình nhỏ.