CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MARKETING DU LỊCH 1.1 Marketing du lịch 1.1 Khái niệm: Theo Tổ chức du lịch thế giới – WTO (World Tourism Organization): “Marketing du lịch là tập hợp những phương pháp và kỹ thuật hình thành bởi một trạng thái tinh thần đặc biệt và có phương pháp trong khi nghiên cứu và phân tích để tổ chức quản lý và đề ra các chính sách nhằm tạo ra các sản phẩm du lịch thỏa mãn nhu cầu của du khách đến mức tối đa theo những điều kiện về tâm lý xã hội của họ kể cả nhu cầu của những người dân tiếp đón và đảm bảo những khả năng về tài chính của các tổ chức du lịch, hiệp hội du lịch”. Theo Philip Kotler thì marketing được hiểu như sau: Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác. Khái niệm này của marketing dựa trên những khái niệm cốt lõi: nhu cầu, mong muốn và yêu cầu, sản phẩm, giá trị, chi phí và sự hài lòng, trao đổi, giao dịch và các mối quan hệ, thị trường, marketing và những người làm marketing.2 Sự cần thiết của Marketing du lịch Du lịch là một ngành công nghiệp không khói, nên đặc tính của sản phẩm du lịch khác với sản phẩm hàng hóa, và đặc biệt sản phẩm thường ở xa và không thể có sự lưu chuyển trực tiếp tới khách du lịch. Và bản chất của Marketing là phát hiện ra các nhu cầu và tìm cách thỏa mãn chúng để đạt mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong kinh doanh du lịch, ứng dụng marketing cần thiết để tìm hiểu những nhu cầu của du khách và nghệ thuật đáp ứng để kinh doanh có hiệu quả.2 Tổng quan về du lịch 1.1 Khái niệm về du lịch Trong những năm gần đây, du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn 6 của nhiều quốc gia và đã góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế thế giới. Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức – văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ các giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa (I. Theo Tổ chức du lịch thế giới – WTO (World Tourism Organization): “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ, các hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ sự hình thành và lưu trú của các cá thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên với mục đích hòa bình và nơi họ đến không phải là nơi họ làm việc”. Theo Luật du lịch của Việt Nam mà Quốc hội mới ban hành vào ngày 19/6/2017 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác.” Tóm lại, chúng ta có thể hiểu du lịch là việc di chuyển (đi lại) của con người ra khỏi nơi cư trú của mình, lưu lại tạm thời ngoài nơi cư trú của mình, tiêu thụ các giá trị tự nhiên, kinh tế, và văn hóa.
Việc đi lại và lưu lại tạm thời này không nhằm mục đích kiếm việc làm, không nhằm mục đích chính trị (xâm lược).2 Khái niệm điểm đến du lịch Hiện tại, tùy vào góc độ nghiên cứu hay quản lý, các nhà khoa học, các nhà quản lý đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về điểm đến du lịch. Các chuyên gia về quản lý điểm đến của Tổ chức Du lịch thế giới định nghĩa: “Điểm đến du lịch là một không gian vật chất mà du khách lưu trú lại ít nhất một đêm. Nó bao gồm các sản phẩm du lịch như các dịch vụ hỗ trợ, các điểm đến và tuyến điểm du lịch trong thời gian một ngày. Nó có các giới hạn vật chất và quản lý giới hạn hình ảnh, sự quản lý xác định tính cạnh tranh trong thị trường.” Điểm đến có thể hiểu đơn giản là các khu, điểm du lịch, những đô thị, vùng quê, miền núi.
Những nơi này có thể là các điểm đến cho một chuyến đi trong 7 ngày, một kỳ nghỉ ngắn hoặc dài ngày. Ở một khía cạnh khác, các quốc gia, các lục địa cũng được xem xét và chào bán như là các điểm đến du lịch (Ủy ban lữ hành châu Âu (ETC) và Hiệp hội lữ hành khu vực Thái Bình Dương (PATA) có trách nhiệm tiếp thị cho Châu Âu và khu vực Thái Bình Dương như là những điểm đến du lịch.3 Phân loại về du lịch Hiện nay chưa có tiêu chuẩn thống nhất để phân loại du lịch, ngành du lịch thế giới đang phát triển nhanh, số người tham gia hoạt động du lịch ngày càng đông. Mỗi người đều căn cứ vô điều kiện kinh tế, thời gian nhàn rỗi vì mục đích du lịch của mình để xác định hình thức du lịch khác nhau. Cùng với sự phát triển không ngừng của du lịch, phạm vi hoạt động ngày càng có xu thế phát triển, nội dung hoạt động ngày càng mở rộng và các loại hình du lịch cũng dần dần tăng lên.
Các loại hình du lịch có thể phân chia như sau: Phân loại theo mục đích du lịch: Theo sự phân loại về mục đích thăm viếng của du khách ở Hội nghị du lịch quốc tế La Mã của Liên Hiệp Quốc, du lịch được chia ra: du lịch nghỉ phép, du lịch thương mại, du lịch điều trị dưỡng bệnh, du lịch du học, du lịch hội nghị, du lịch thăm viếng người thân, du lịch tôn giáo, du lịch thể dục thể thao và du lịch khác. Phân chia theo phạm vi khu vực: Căn cứ vào phạm vi khu vực cụ thể chia du lịch thành: du lịch trong nước và du lịch quốc tế. Du lịch trong nước là chỉ du lịch do cư dân trong nước rời khỏi nơi cư trú của mình tới một nơi khác trong nước để du lịch. Du lịch quốc tế là chỉ cư dân của một nước vượt đường biên giới quốc gia tới một hoặc vài nước khác để tiến hành du lịch.
Phân chia theo nội dung du lịch: + Du lịch công vụ: Khách nước ngoài nhận lời mời đến thăm viếng, đàm phán ngoại giao. được xếp một hoặc vài hoạt động du lịch. Loại du lịch này tuy chiếm tỉ trọng không lớn trong lợi ích kinh tế của ngành du lịch quốc tế, nhưng cùng với sự tăng lên của sự giao lưu quốc tế, số người có nhu cầu sẽ tăng lên, do đó cần xem đây là một hình thức du lịch quan trọng. + Du lịch thương mại: Thương nhân nước ngoài đến một nước để tìm hiểu 8 thị trường, kết giao với các nhân sĩ, đàm phán mậu dịch, trong đó có ăn ở khách sạn, mời tiệc, xã giao, du ngoạn đã trở thành bộ phận hợp thành quan trọng của hoạt động du lịch ngày nay.
+ Du lịch sinh thái: Đến nơi khác để thưởng ngoạn phong cảnh thiên nhiên và phong thổ, thông qua lữ hành đạt được sự hưởng thụ cái đẹp, được vui vẻ, nghỉ ngơi. Đó là hình thức du lịch chủ yếu nhất hiện nay. + Du lịch thăm viếng người thân: Nước ngoài còn gọi là du lịch tìm cội nguồn. Những năm gần đây, số người du lịch tìm cội nguồn và thăm viếng người thân ngày càng tăng, trở thành hình thức du lịch đặc biệt.
+Du lịch văn hoá: Những người tiến hành du lịch văn hoá phần lớn là những người có học. Họ đến một nơi khác để tìm hiểu văn vật cổ tích, văn hoá nghệ thuật, kiến trúc dân tộc, khoa học kỹ thuật giáo dục với mục đích khảo sát văn hoá và giao lưu văn hoá. + Du lịch hội nghị: Một số nơi tận dụng dịp tiếp đãi hội nghị gắn hội nghị và du lịch với nhau tức là vừa hội nghị vừa du lịch. Đặc điểm của loại du lịch này là địa vị của du khách cao, thời gian lưu lại dài, khả năng mua sắm mạnh.
Hình thức du lịch này đang phát triển mạnh trên thế giới, trở thành một bộ phận chiếm tỉ trọng lớn của thị trường du lịch quốc tế. + Du lịch tôn giáo: Đây là hình thức du lịch cổ xưa tiếp tục đến nay, chủ yếu là kết quả của sự tồn tại và ảnh hưởng của tôn giáo phản ảnh trên tư tưởng con người. Ở Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á có lịch sử lâu đời và hình thức kiến trúc phong phú đa dạng đã thu hút các tín đồ tôn giáo tín ngưỡng khác nhau và đã thu hút nhiều du khách đến tham quan du ngoạn. + Việc phân loại du lịch trên có ý nghĩa rất quan trọng, sẽ giúp cho ta khai thác lợi thế, tiềm năng du lịch, xác định được thế mạnh của cơ sở kinh doanh du lịch, từ đó có thể xác định được cơ cấukhách hàng, mục tiêu của điểm du lịch, tạo điều kiện đưa hoạt động ngành du lịch ngày càng phát triển tốt nhất.4 Vai trò của du lịch đối với việc phát triển Kinh tế - Xã hội của địa phương.
Mối quan hệ giữa phát triển du lịch và phát triển kinh tế – xã hội là mối 9 quan hệ hai chiều. Khi nền kinh tế của một quốc gia càng phát triển thì nhu cầu đi du lịch của người dân càng tăng lên, do đó ngành du lịch có điều kiện để phát triển. Ngành du lịch phát triển sẽ là đầu tàu kéo theo sự phát triển của các ngành khác có liên quan, trước tiên là những ngành thuộc 5 khu vực chính trong ngành du lịch, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội, cải thiện điều kiện sống của một bộ phận dân cư… và như vậy, sự phát triển của ngành du lịch góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển hơn nữa. Phát triển du lịch quốc tế sẽ làm tăng nhanh nguồn thu ngoại tệ cho địa phương và cho đất nước.
Nhiều nhà kinh tế đã khẳng định: Du lịch là một ngành xuất khẩu vô hình hoặc Du lịch là một ngành xuất khẩu tại chỗ có hiệu quả kinh tế cao.Khi khách du lịch đến tham quan và nghỉ dưỡng, họ sẽ tiêu thụ một khối lượng lớn nông sản, thực phẩm dưới dạng các món ăn, đồ uống và mua hàng hóa, sản phẩm của các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm, thủ công mỹ nghệ… Như vậy địa phương sẽ thu được một khoản ngoại tệ tại chỗ với hiệu quả cao.