CHƯƠNG 1 NHŨNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỂ MARKETING TRONG DỊCH v ụ THẺ NGÂN HÀNG 1. LÝ LUẬN CHƯNG VỂ THẺ TRONG KINH DOANH NHTM 1. Lịch sử hình thành, phát triển của thẻ Vào năm 1914 tại Mỹ, chiếc thẻ đầu tiên trên thế giới xuất hiện bắt nguồn từ việc các đại lý bán lẻ cung cấp tín dụng cho khách hàng (mua hàng trước, trả tiền sau). Điển hình là tổng công ty xăng dầu California cấp thẻ cho nhân viên và một số khách hàng của mình.
Tuy nhiên thẻ lúc đó chỉ khuyến khích khách hàng mua sản phẩm của công ty mà không kèm theo dự phòng khi gia hạn tín dụng. Năm 1946, thẻ ngân hàng John Biggins có tên là Charg-it xuất hiện tại Mỹ. Đó là một loại “phiếu” có giá trị do ngân hàng phát hành cho phép khách hàng sở hĩru nó thực hiện các giao dịch nội địa tại các hệ thống đại lý của ngân hàng. Các đại lý nộp các “phiếu” giao dịch cho ngân hàng Biggins; ngân hàng sẽ thanh toán các giao dịch dó cho các đại lý và thu tiền lại từ các khách hàng.
Đó là tiền đề cho việc phát hành thẻ tín dụng đầu tiên với tên gọi Dinners Club của ngân hàng Franklen National New York vào năm 1950. Có rất nhiều loại thẻ đã và đang được sử dụng trên thế giới, tiêu biểu trong số đó phải kê đến các thẻ do các tổ chức quốc tế có uy tín phát hành gồm Diners Club, Amex, Visa, JCB và MasterCard. Hiện nay trên toàn thế giới, hàng năm doanh số thanh toán thẻ là hon 4000 tỷ USD, số thẻ phát hành khoảng trên 2,5 tỷ thẻ với hon 38 tỷ giao dịch thẻ. Khái niệm về thẻ ngân hàng Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về thẻ ngân hàng dựa trên các góc độ nghiên cứu, phân tích khác nhau.
4 Xét về cấu tạo vật lý, thẻ ngân hàng là một miếng nhựa có kích thước tiêu chuẩn, trên đó có một dải băng từ hoặc chip điện tử ghi thông tin về thẻ, chủ thẻ và các thông tin khác có liên quan tới giao dịch thẻ. Xét về phương diện phát hành, thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán được phát hành bởi các ngân hàng, các tổ chức tài chính hay các công ty nhằm mục đích giao dịch mua bán hàng hoá hoặc rút tiền mặt. Xét về phương diện thanh toán, thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt giá trị của các giao dịch cần thanh toán thông qua hệ thống thanh toán được kết nối giữa các chủ thể tham gia dựa trên nền tảng công nghệ ngân hàng và tin học viễn thông. Theo quyết định 371/1999/QĐ- NHNN1 ngày 19/10/1999 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về quy chế phát hành và thanh toán thẻ ngân hàng đưa ra khái niệm: “Thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ không dùng tiền mặt hoặc có thể rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc các ngân hàng đại lý; hoặc thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán chi phí mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ tại các điểm chấp nhận thẻ.” Các khái niệm trên đây tuy khác nhau nhưng có thể thống nhất chung về bản chất của thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính, các công ty phát hành để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt dựa trên số dư tiền gửi của chủ thẻ hoặc hạn mức tín dụng đã được đơn vị phát hành cam kết.
Cùng với sự phát triển nhanh chóng củakhoa học công nghệ, phạm vi và quy mô sử dụng của thẻ ngân hàng ngày càng rộng, các tiện ích gia tăng của chủ thẻ được phát triển ngày càng đa dạng. Phân loại thẻ ngân hàng Hiện nay trên thị trường, thẻ ngân hàng đang lưu hành rất đa dạng và phong phú, để phân loại thẻ có thể dựa trên nhiều tiêu thức. P h ân lo ạ i th eo tính ch ấ t của th ẻ * Thẻ tín dụng Loại thẻ thường được phát hành bởi các ngân hàng dùng thanh toán trước, trả tiền sau. Nghĩa là dựa vào uy tín hoặc khả năng tài chính của chủ thẻ mà ngân hàng sẽ cấp cho chủ thẻ một hạn mức tín dụng nhất định cho phép chủ thẻ chi tiêu trong hạn mức ấy, sau đó theo định kỳ (có thể cuối tháng) ngân hàng sẽ gửi hoá đon thanh toán dành cho chủ thẻ, chủ thẻ phải thanh toán lại cho ngân hàng số tiền tín dụng mà chủ thẻ đã sử dụng.
Nếu chủ thẻ trả hết số nợ theo đúng quy định của NHPHT thì họ không phải trả lãi cho số tiền đã sử dụng trong tháng còn ngược lại sẽ phải thanh toán tiền lãi cho số tiền chưa trả hết theo mức lãi suất đã thoả thuận trước; mức lãi suất tuỳ thuộc từng NHPHT và loại thẻ phát hành. * Thẻ ghi nọ Loại thẻ phát hành dựa trên tài khoản thẻ hay tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của chủ thẻ. Khi chủ thẻ sử dụng thẻ để mua hàng hoá, thanh toán dịch vụ hay rút tiền mặt thì giá trị giao dịch sẽ bị trừ vào số dư của tài khoản. Nếu được NHPHT cấp hạn mức thấu chi thì khách hàng có thể chi tiêu vượt quá số dư trên tài khoản nhưng phải trong hạn mức tín dụng đã thông báo trước cho khách hàng.
* Thẻ tiền lẻ (Cash Card) Khách hàng không cần mở tài khoản khi đề nghị được sử dụng loại thẻ này. Thẻ này thường dùng cho những giao dịch có giá trị thấp. P h ân loại th eo chủ thê p h á t hành th ẻ * Thẻ do ngân hàng phát hành 6 Loại thẻ mà ngân hàng phát hành cho khách hàng sử dụng linh hoạt số tiền sẵn có trong tài khoản của họ tại ngân hàng hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng. Thẻ này được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay, nó không chỉ lưu hành trong một quốc gia mà còn có thể lun hành trên phạm vi toàn cầu như Visa, Mastercard, JCB.
* Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành Loại thẻ do các tổ chức du lịch và giải trí lớn, nổi tiếng trên thế giới phát hành như Dinners club, Amex. hay đó cũng có thể là thẻ do các công ty xăng dầu, các cửa hiệu lớn, các co sở kinh doanh. * Thẻ liên kết Loại thẻ được phát hành thông qua sự liên kết giữa một ngân hàng hoặc công ty tài chính với một chủ thể thưong mại. Sử dụng thẻ liên kết khách hàng sẽ nhận được ưu đãi từ hai phía: NHPHT và chủ thể thương mại.
về phía ngân hàng, khách hàng có thể được ưu đãi về phí, lãi suất, thời gian ân hạn. còn về phía đối tác, khách hàng có thể được nhận giảm giá, khuyến mại. P hân lo ạ i theo côn g ngh ệ sản x u ấ t th ẻ * Thẻ khác chữ nổi (Embossing Card) Loại thẻ được làm dựa trên kỹ thuật khắc chữ nổi. Trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin cần thiết.
Những tấm thẻ đầu tiên ra đời đã được sản xuất theo công nghệ này. Thẻ này dễ bị lợi dụng, làm giả, không đảm bảo an toàn trong khi sử dụng nên hiện nay không được sử dụng. * Thẻ băng tù (Magnetic stripe) Thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật mã hoá từ tính, sử dụng các thiết bị mang tính công nghệ cao. Mặt sau của thẻ có một dải băng từ màu nâu đen chứa đựng các thông tin về thẻ, chủ thẻ cũng như số liệu kết nối đã được mã hoá.
Đây là loại thẻ đã được sử dụng phổ biến trong vòng 20 năm nay. Hiện nay, loại thẻ này đã bộc lộ nhược điểm bảo mật không cao, dễ bị kẻ gian lấy 7 trộm thông tin gây thiệt hại cho cho chủ thẻ và NHPHT do đó đang dần được thay thế bằng thẻ thông minh. * Thẻ thông minh (Smart card) Thẻ điện tử có bộ vi sử lý chip điện tử. Đây là loại thẻ áp dụng công nghệ thẻ hiện đại và là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán được sử dụng ở nhiều nước Châu Âu.
Vi mạch điện tử có khả năng lưu trữ thông tin bảo mật của thẻ và chủ thẻ. Mặt khác nó còn lưu giữ số dư tài khoản, hạn mức tín dụng và các thông số cần thiết khác. Thẻ thông minh có nhiều nhóm với dung lượng nhớ của chip điện tử khác nhau. P hân lo ạ i theo hạn m ức và uy tín của th ẻ * Thẻ vàng (Gold card) The này chỉ được phát hành cho những đối tượng có uy tín, có thu nhập cao, khả năng tài chính lành mạnh và nhu cầu chi tiêu lớn.
Thẻ vàng (thẻ hạng nhất, thẻ cao cấp.) có những điểm khác nhau tùy vào tập quán, trình độ phát triển của mỗi nước nhưng đều có điểm chung là hạn mức cao hơn thẻ thường. * Thẻ thường! Standard Card) Là loại thẻ căn bản nhất, mang tính chất phổ thông đại chúng, được hàng trăm triệu người trên thế giới sử dụng mỗi ngày. Đây là một dạng thẻ phổ biến bởi hạn mức thấp hơn, phù hợp với khách hàng có mức thu nhập trung bình. Hạn mức quy định tối thiểu tuỳ NHPHT quy định.
P h ân lo ạ i theo p h ạ m vi sử dụ n g của th ẻ * Thẻ nội dịa Là loại thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm vi một quốc gia, chủ yếu cho mục đích tiêu dùng. Đổng tiền được sử dụng trong giao dịch mua bán hàng hoá, hay rút tiền là đồng bản tệ của quốc gia đó. Loại thẻ này chỉ do một tổ chức hay do một ngân hàng điều hành từ việc tổ chức phát hành đến xử lý trung gian thanh toán * Thẻ quốc tê (International card) 8 Thẻ được chấp nhận thanh toán trên nhiều quốc gia và sử dụng thanh toán bằng các loại ngoại tệ mạnh. Quy trình phát hành và thanh toán của thẻ quốc tế phức tạp, các thủ tục đăng ký sử dụng chặt chẽ.
Loại thẻ này được quản lý bởi các tổ chức thẻ quốc tế như: Mastercard, Visacard, JCBcard. Các chủ thê tham gia vào dịch vụ thẻ. Các thành phần tham gia trong quá trình phát hành, sử dụng, thanh toán thẻ là những nhân tố quyết định tới sự tổn tại, phát triển của dịch vụ thẻ. Ngân hàng phát hành thẻ, tổ chức phát hành thẻ: Là ngân hàng, tổ chức phát hành thẻ độc lập hay là thành viên của tổ chức thẻ được sự cho phép phát hành thẻ của chính quyền nước sở tại.