Chương 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MARKETING DỊCH VỤ VÀ NGÂN HÀNG BÁN LẺ 1. Lý thuyết về Marketing dịch vụ 1. Dịch vụ Dịch vụ là mọi biện pháp hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể liên quan hoặc không liên quan đến hàng hóa dưới dạng vật chất của nó.
328] Có thể tóm tắt các đặc tính của dịch vụ qua mô hình dưới đây [11]: 3.Tính không thể 1.Tính vô hình tách biệt (phi vật chất) Quá trình sản xuất và tiêu Người ta không thể nhìn thụ các sản phẩm dịch vụ thấy, thử mùi vị, sờ hay diễn ra đồng thời. Lúc ngửi trước khi tiêu dùng khách hàng tiến hành tiêu chúng. thụ sản phẩm dịch vụ đó mới được cung ứng.Tính không ổn định và giữ được khó xác định chất lượng Sản phẩm dịch vụ được Do sự cung ứng dịch vụ phụ thực hiện theo quy trình thuộc vào từng người thực và có sự tham gia trực tiếp hiện dịch vụ, vào từng khách hàng. Hơn nữa do đặc tính của khách hàng nên không không hiện hữu nên rất khó có khả năng cất trữ trong đo lường và quy chuẩn hóa kho từ trước.1 - Những đặc điểm cơ bản của dịch vụ 1.
Marketing dịch vụ 1. Khái niệm Marketing dịch vụ Chúng ta có thể hiểu về Marketing dịch vụ, một cách tổng quát như sau: Marketing dịch vụ là quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thỏa mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu đã lựa chọn và xác định bằng quá trình phân 5 phối các nguồn lực của các tổ chức nhằm thỏa mãn nhu cầu đó. Marketing được xem xét trong sự năng động của mối quan hệ qua lại giữa các sản phẩm dịch vụ của Công ty và nhu cầu của người tiêu thụ cùng với những hoạt động của đối thủ cạnh tranh. Đặc điểm của Marketing dịch vụ Trong hoạt động dịch vụ, Marketing là một công cụ hữu hiệu nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức.
Tuy nhiên, việc áp dụng Marketing trong lĩnh vực dịch vụ thường gặp những khó khăn. Vì vậy, mức độ áp dụng Marketing trong lĩnh vực dịch vụ thường hạn chế hơn trong các lĩnh vực khác. Sự hạn chế này thường được chi phối bởi những lý do sau đây: - Nhiều đơn vị dịch vụ có quy mô nhỏ, đáp ứng nhu cầu cá nhân như: tiệm cắt tóc, gội đầu, sửa chữa giầy, dép, sửa xe… Trong hoàn cảnh này chi phí về Marketing thường rất tốn kém. Vì vậy, họ thường hoạt động Marketing trong những giới hạn nhất định: chủ yếu là các hoạt động liên quan trực tiếp đến dịch vụ khách hàng, quảng cáo và bán hàng cá nhân.
- Các đơn vị và tổ chức cung cấp dịch vụ do những quan niệm về đạo đức hoặc pháp luật (như: bệnh viện, luật sư…) nên việc triển khai các hoạt động Marketing gặp những trở ngại từ nhận thức. - Các tổ chức cung cấp dịch vụ được thụ hưởng chi phí từ ngân sách Nhà nước (như: Tòa án, Công an…) cảm thấy nhu cầu về Marketing là không cần thiết. Vai trò của Marketing dịch vụ Do những đặc điểm riêng trong hoạt động dịch vụ nên vai trò của Marketing ngày càng trở nên quan trọng. Có thể thấy điều này trên một số phương diện sau: - Với bản chất của Marketing là hướng tới thỏa mãn tốt nhất nhu cầu cho khách hàng, các tổ chức cung cấp dịch vụ sẽ cần đến Marketing như là công cụ đắc lực nhất để thực hiện mục tiêu cuối cùng của tổ chức mình, dù đó là Ngân hàng, Bảo hiểm hay trường học, bệnh viện, tòa án, luật sư… 6 - Các sản phẩm dịch vụ có tính chất vô hình nên người tiêu dùng dịch vụ thường gặp khó khăn trong việc đánh giá chất lượng dịch vụ.
Vì vậy sức hấp dẫn của tổ chức cung cấp dịch vụ với khách hàng phụ thuộc rất nhiều vào các chương trình và hoạt động Marketing (đánh giá dư luận, tuyên truyền, quảng cáo, quan hệ công chúng…). - Marketing dịch vụ bao gồm một hệ thống giải pháp hướng về khách hàng, chăm sóc và phục vụ khách hàng tốt nhất. Điều đó tạo nên sự khác biệt giữa các tổ chức cung cấp dịch vụ. Các hoạt động Marketing mà các tổ chức cung cấp dịch vụ quan tâm thường nằm trong ba nhóm giải pháp: dịch vụ trước bán hàng, dịch vụ trong bán hàng và dịch vụ sau bán hàng.
Nói một cách khác, trong các tổ chức cung cấp dịch vụ hoạt động Marketing sẽ tạo ra những lợi thế cạnh tranh đặc biệt nhằm khẳng định ưu thế và sức mạnh của chính tổ chức đó. - Trong xu thế phát triển của nhu cầu thị trường về các sản phẩm dịch vụ, uy tín và hình ảnh của các tổ chức cung cấp dịch vụ có ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Khách hàng rất quan tâm đến vị thế và giá trị thương hiệu của các nhà cung cấp dịch vụ được tạo nên bởi chiến lược và các nỗ lực Marketing. Dịch vụ Ngân hàng bán lẻ 1.
Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ Ngân hàng bán lẻ 1. Khái niệm dịch vụ Ngân hàng bán lẻ Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về dịch vụ (hay hoạt động) NHBL. Theo cách hiểu trong thương mại, các hoạt động ngân hàng được phân rõ, trong đó hoạt động NHBL là dịch vụ ngân hàng cung cấp trực tiếp cho doanh nghiệp và cá nhân, giá trị giao dịch nhỏ, có giới hạn; Khác với hoạt động ngân hàng bán buôn là giao dịch với những đối tượng lớn như doanh nghiệp lớn (doanh nghiệp Nhà nước, Tổng công ty), các trung gian tài chính (giao dịch trên thị trường liên ngân hàng); và hoạt động ngân hàng điện tử: phone banking, internet banking… 7 Theo các chuyên gia của học viện công nghệ Châu á – AIT dịch vụ NHBL là cung ứng sản phẩm và dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm, dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin. Trên thực tế, dịch vụ NHBL không thể tách rời các phương tiện công nghệ cao vì phục một khối lượng khách hàng vô cùng lớn là các cá nhân, doanh nghiệp.
Tóm lại, dịch vụ NHBL là những dịch vụ cung ứng những tiện ích ngân hàng đến tận tay người tiêu dùng. Đối tượng của dịch vụ ngân hàng bán lẻ do đó vô cùng lớn bao gồm cá nhân, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, phương tiện gắn liền với công nghệ cao và cho phép phục vụ tại mọi nơi, mọi lúc và đa mục đích. Đặc điểm dịch vụ Ngân hàng bán lẻ - Về đối tượng: Đối tượng của dịch vụ NHBL là các cá nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đây là mảng thị trường đầy tiềm năng do khối lượng khách hàng đông, hàng năm đem lại cho ngân hàng nguồn doanh thu chắc chắn, ít rủi ro.
Bên cạnh đó, nó mang lại cơ hội đa dạng hoá các sản phẩm và dịch vụ phi ngân hàng, cơ hội mua bán chéo (cross- sold) với cá nhân và doanh nghiệp nhỏ. Ngược lại, dịch vụ ngân hàng bán buôn bao gồm cả thị trường tài chính và hoạt động đầu tư. Ngân hàng có thể tạo ra nguồn doanh thu lớn hơn trên mỗi khách hàng, tuy nhiên nguy cơ rủi ro cũng cao hơn, một trong số đó tiềm ẩn những tác động lan truyền như rủi ro về danh tiếng (reputation risk). Thông thường sản phẩm cho đối tượng này sẽ bắt đầu từ các sản phẩm dịch vụ cơ bản như tài khoản séc, tài khoản tiết kiệm, sau đó sẽ dần dần tiếp cận các sản phẩm phức tạp hơn như quỹ tương hỗ, thẻ tín dụng và các dịch vụ cho vay.
- Về quy mô: 8 Do đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ nên giá trị của mỗi lần cung cấp dịch vụ thường không lớn. Do khách hàng cá nhân nên nhu cầu của họ thường không có tính lặp lại, ví dụ như họ chỉ mua nhà một lần không thể thường xuyên vay tiền ngân hàng tài trợ vốn lưu động như của doanh nghiệp. Vì vậy, muốn có hiệu quả thì ngoài việc tăng số lượng khách hàng thì ngân hàng cần xây dựng hệ thống sản phẩm dịch vụ có tính tích hợp cao, kết hợp việc cung ứng nhiều sản phẩm cho một khách hàng. - Dựa trên công nghệ cao Khách hàng của dịch vụ NHBL thường phân bố không tập trung trên các khu vực địa lý rộng.
Họ vừa muốn sử dụng các dịch vụ ngân hàng nhưng cũng muốn tiết kiệm thời gian; chi phí đi lại, họ muốn sử dụng dịch vụ dễ dàng nhanh chóng nhưng lại yêu cầu chính xác và an toàn. Chỉ dựa trên nền tảng công nghệ thông tin mới đáp ứng được bài toán trên. - Nhạy cảm với chính sách Marketing Khách hàng của dịch vụ NHBL rất nhạy cảm với các yếu tố Marketing như giá cả, sản phẩm, xúc tiến khuyếch trương, phân phối… Đặc biệt là yếu tố con người trong Marketing, cụ thể là các tư vấn tiếp xúc trực tiếp với khách hàng. Thái độ nhã nhặn hay cách xử lý nhanh chóng, linh hoạt của họ sẽ để lại ấn tượng mạnh đối với khách hàng, làm nên sự khác biệt trong cạnh tranh.
Vai trò của dịch vụ Ngân hàng bán lẻ Từ giác độ kinh tế – xã hội, dịch vụ NHBL có tác dụng đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng to lớn về vốn để phát triển kinh tế, đồng thời giúp cải thiện đời sống dân cư, hạn chế thanh toán tiền mặt, góp phần tiết kiệm chi phí và thời gian cho cả ngân hàng và khách hàng. Xét trên giác độ tài chính và quản trị ngân hàng, NHBL mang lại nguồn thu ổn định, chắc chắn, hạn chế rủi ro tạo bởi các nhân tố bên ngoài vì đây là lĩnh vực ít chịu ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế. Ngoài ra, NHBL giữ vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo 9 nguồn vốn trung và dài hạn chủ đạo cho ngân hàng, góp phần đa dạng hóa hoạt động ngân hàng. Hoạt động NHBL ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động của các NHTM trên thế giới, các NHBL toàn cầu sẽ đóng vai trò chủ đạo trong danh sách 20 ngân hàng toàn cầu hàng đầu theo xếp hạng của tạp chí The Banker vào năm 2015.
Nội dung dịch vụ Ngân hàng bán lẻ Dịch vụ NHBL được phát triển và mở rộng dựa trên những dịch vụ truyền thống. Các sản phẩm đa dạng phong phú này tập trung vào các nhóm dưới đây: 1.