CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ðỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG, CƠ SỞ CỦA VIỆC ðẨY MẠNH CHO VAY TIÊU DÙNG VÀ VAI TRÒ CỦA MARKETING TRONG THÚC ðẨY 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ðỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG 1. Quá trình hình thành và phát triển của cho vay tiêu dùng Trước ñây các ngân hàng thường tập trung cho vay sản xuất kinh doanh và ít cho vay ñối với cá nhân, hộ gia ñình. Họ cho rằng cho vay tiêu dùng có quy mô nhỏ, rủi ro lại rất cao.
Sau chiến tranh thế giới thứ II, trước sức ép của cạnh tranh các ngân hàng ñã phải tiến hành cải cách. Cùng với sự cạnh tranh của các tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính trung gian khác, sự phát triển mạnh mẽ của thị trường vốn khiến thị phần cho vay các doanh nghiệp của ngân hàng bị giảm sút, nhiều hãng lớn tự tài trợ bằng phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Khiến các ngân hàng phải tìm cách chuyển hướng sang hoạt ñộng khác ñể tăng thu nhập. Bên cạnh ñó, sự phát triển của nền kinh tế, khiến mức sống của dân cư ñược cải thiện ñáng kể, nhu cầu vay tiêu dùng tăng mạnh mẽ, gắn liền với nhu cầu về hàng tiêu dùng lâu bền như nhà, xe, ñồ gỗ sang trọng, nhu cầu du lịch…Cho vay tiêu dùng trở thành một thị trường hấp dẫn ñầy tiềm năng ñối với ngân hàng.
Các ngân hàng chuyển hướng sang tập trung mở rộng thị trường cho vay tiêu dùng. Nhiều ngân hàng chuyên môn hoá hoạt ñộng cho vay tiêu dùng bằng cách lập các phòng tín dụng tiêu dùng ñộc lập. Giúp các ngân hàng tăng quy mô, giảm rủi ro và chi phí trong các khoản cho vay tiêu dùng ñưa tín dụng tiêu dùng trở thành một trong những loại hình tín dụng có mức tăng trưởng cao. Ở Mỹ và Châu Âu cho vay tiêu dùng chiếm khoảng 25-40% tổng dự nợ cho vay của hệ thống ngân hàng.
Cho 7 vay tiêu dùng sẽ vẫn ñóng vai trò chủ ñạo trong dịch vụ ngân hàng trong những năm tới ñây. Khái niệm "Cho vay tiêu dùng ñược hiểu là hình thức tài trợ của ngân hàng cho mục ñích chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia ñình. Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng giúp những người tiêu dùng có thể trang trải nhu cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương tiện ñi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch…nâng cao mức sống của người tiêu dùng trước khi họ có ñủ khả năng về tài chính ñể thụ hưởng” 1. ðặcñiểm Cho vay tiêu dùng là một hoạt ñộng tất yếu hình thành do yêu cầu của nền kinh tế.
Nó có những ñặc ñiểm riêng khác với tín dụng ngân hàng nói chung. - Số lượng các món vay lớn nhưng giá trị mỗi món vay nhỏ Các khoản cho vay tiêu dùng thường có giá trị nhỏ, khác với các khoản cho vay sản xuất kinh doanh. Khách hàng khi tìm ñến ngân hàng với mục ñích vay tiêu dùng thường có nhu cầu vốn không lớn vì các hàng hoá dịch vụ tiêu dùng thường không quá ñắt ñỏ, nếu người tiêu dùng vay ñể mua xe, sản phẩm ñiện tử. thì quy mô những món vay này không quá lớn ñối với ngân hàng hoặc khách hàng ñã có sự tích luỹ một phần từ trước.
- Các khoản cho vay tiêu dùng có ñộ rủi ro cao + Cho vay tiêu dùng có ñộ rủi ro rất cao trong danh mục cho vay của ngân hàng. Chịu tác ñộng của những yếu tố khách quan như môi trường kinh tế xã hội, môi trường tự nhiên ( thiên tai, hạn hán, lũ lụt…) và các yếu tố khác như: 8 • Tính chu kỳ của hoạt ñộng cho vay tiêu dùng. Nhu cầu vay vốn tỷ lệ thuận với sự tăng trưởng của nền kinh tế. Nó tăng lên khi nền kinh tế phát triển, mở rộng khiến người dân tin tưởng vào thu nhập của mình trong tương lai và sẵn sàng vay tiền ñể ñược sử dụng trước những hàng hoá cao cấp phục vụ ñời sống.
Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, hạn hán, bệnh dịch, mất mùa… khiến người tiêu dùng chỉ dám yêu cầu mức sống ñảm vảo ñược những nhu cầu thiết yếu hàng ngày và hạn chế việc vay từ ngân hàng. ðối tượng cho vay tiêu dùng là cá nhân và hộ gia ñình. Các thông tin về khách hàng như sức khoẻ, thu nhập có ñộ chính xác không cao do khách hàng cố tình giữ kín hoặc che dấu. Khả năng trả nợ của khách hà ng sẽ thay ñổi nhanh chóng khi thay ñổi ñiề u kiện làm việc hay tình trạng sức khoẻ.
Nếu người vay bị chết, ốm, hoặc bị mất việc thì ngân hàng sẽ khó thu ñược nợ. Ngân hàng có thể phải ñối mặt với những trường hợp kh ách hàng cố tình lừa ñảo, chây ỳ với hy vọng quỵt nợ, hoặc ké o dài thời gian sử dụng vốn của ngân hàng. Lãi suất cho vay tiêu dùng khá cứng nhắc. Ngân hàng có thể phải chịu tổn thất khi chi phí huy ñộng vốn tăng lên.
Hoặc ñối với công ty tài chính thì khó khăn hơn vì chủ yếu sử dụng vốn chủ. - Chi phí cho vay tiêu dùng cao Chi phí cho vay tiêu dùng khá cao tr ong danh mục cho vay của ngân hàn g. Do quy mô mỗi món vay thường nhỏ, thờ i gia n vay th ường ngắn, rủi ro cao, thủ tục ñơn giản các thôn g tin về cá nhân thường không ñầy ñủ và thiếu chính xác nên ngân hàng phải mất nhiều chi phí và thời gian tr ong khâu tiếp nhận hồ s ơ, thẩm ñịnh khách hàn g. Hơn nữa, các khoản cho vay ti êu dùng th ường có số lượng lớn, do ñó ngân hàn g phải mất thêm chi phí ñể quản lý các khoản vay, theo dõi va kiểm tra khách hàng thườn g xuyên… 9 nhữn g ñiều này khiế n cho việc thực hiện một khoản cho vay tiêu dùng của ngân hàn g ñối với khách hàng th ường có chi phí lớn.
- Cho vay tiêu dùng có khả năng sinh lời cao Cho vay tiêu dùng là một tron g những khoản mục tín dụn g mang lại mức lợi nhuận cao nhất trong danh mục cho vay của ngân hàn g. Các khoản cho vay tiêu dùng thường ñược ñịnh giá rất cao vì việ c ñịnh giá này dựa trên cơ sở chi phí cho vay tiêu dùng lớn và mức ñộ rủi ro cao. Khi n gười tiê u dùng ñến vay tiền của n gân hàn g, họ thường quan tâm tới việc có vay ñược tiền hay khôn g. Và sẵn sàng chấp nhận mức lãi suất cao ñể có thể vay ñ ược tiền thoả mãn nhu cầu tiêu dùng.
+ Có thể nói, cho vay tiêu dùng ñã ñem lại cho ngân hàng nguồn thu nhập cao. ðây là một thị trường rộng lớn, nhiều tiềm năng, và sẽ tiếp tục phát triển mạnh trong tương lai. Phân loại cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng ñược phân loại dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau giúp ta có cái nhìn toàn diện về cho vay tiêu dùng trên nhiều giác ñộ - Căn cứ vào phương thức hoàn trả Theo tiêu thức này cho vay tiêu dùng ñược chia thành 3 loại gồm: cho vay tiêu dùng trả góp, cho vay tiêu dùng trả một lần, cho vay tiêu dùng tuần hoàn. + Cho vay tiêu dùng trả góp: là phương thức cho vay trong ñó người ñi vay trả nợ gốc cho ngân hàng làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng ñã thoả thuận.
Cho vay trả góp thường áp dụng ñối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố ñịnh hoặc hàng lâu bền. Ngân hàng thường cho vay trả góp ñối với người tiêu dùng thông qua hạn mức nhất ñịnh. Ngân hàng sẽ 10 thanh toán cho người bán lẻ về số hàng hoá mà khách hàng ñã mua trả góp. Các cửa hàng bán lẻ nhận ngay tiền sau khi bán hàng từ phía ngân hàng và làm ñại lý thu tiền cho ngân hàng, hoặc khách hàng trả trực tiếp cho ngân hàng.
Thông thường thì ngân hàng yêu cầu người vay phải thanh toán trước một phần giá trị tài sản cần mua sắm. Số tiền này ñược gọi là số tiền trả trước. phần còn lại ngân hàng sẽ cho vay. Số tiền trả trước này nhiều hay ít phụ thuộc vào mức ñộ giảm giá nhanh hay chậm của từng loại tài sản.
Tài sản nào có mức ñộ giảm giá nhanh thì số tiền trả trước nhiều, tài sản nào có mức ñộ giảm giá chậm thì số tiền trả trước ít. Ngoài ra số tiền trả trước nay còn phụ thuộc vào thị trường tiêu thụ tài sản sau khi ñã sử dụng, môi trường kinh tế, năng lực tài chính của người ñi vay. Số tiền trả trước này có một vai trò khá quan trọng giúp ngân hàng hạn chế rủi ro. Trong trường hợp này cần chú ý số tiền thanh toán ñịnh kỳ phải phù hợp với khả năng về thu nhập của khách hàng.
+ Cho vay tiêu dùng trả một lần: theo phương thức này, tiền vay ñược khách hàng thanh toán cho ngân hàng chỉ một lần khi ñến hạn. Thường thì các khoản vay trong trường hợp này có giá trị nhỏ, thời hạn ngắn. Mặc dù nó có giá trị không lớn nhưng ñáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời như dùng ñể sửa chữa tài sản cố ñịnh, mua sắm các vật dụng thiết yếu… + Cho vay tiêu dùng tu ần hoàn: ðây là khoản cho vay tiêu dùng mà ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành séc ñược phép thấu chi. Trong thời hạn tín dụng ñược thoả thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm ñược từng kỳ, khách hàng ñược ngân hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo hạn mức tín dụng.
Lãi ñược trả mỗi kỳ có thể tính theo các cách sau: 11 * Lãi ñược tính dựa trên số dư nợ trước khi ñược ñiều chỉnh, nghĩa là số dư nợ ñược dùng ñể tính lãi là số dư nợ mỗi kỳ có trước khi nợ ñược hạch toán. * Lãi ñược tính dựa trên số dư nợ ñã ñược ñiều chỉnh: theo ñó, số dư nợ ñược dùng ñể tính lãi là số dư nợ cuối cùng của mỗi kỳ sau khi khách hàng ñã thanh toán nợ cho ngân hàng. * Lãi ñược tính dựa trên cơ sở dư nợ bình quân. - Căn cứ theo phương thức tài trợ Theo phương thức này, cho vay tiêu dùn g ñược chia thành 2 loại là cho vay tiêu dùng trực tiếp và cho vay tiêu dùng gián tiếp.