CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 1.1 Lý do chọn đề tài Ngày nay, các bệnh án điện tử (BAĐT) đã được phổ biến và càng được quan tâm cho các hoạt động chia sẻ, xử lý, phân tích, và khám phá tri thức từ các BAĐT này để có thể hỗ trợ cho các hoạt động chăm sóc sức khỏe và nghiên cứu y học. Tuy nhiên, đặc điểm của các BAĐT này tạo khá nhiều thách thức như: Cấu trúc của các BAĐT: các BAĐT có phần nội dung dữ liệu đơn giản được cấu trúc hóa và cũng có phần nội dung văn bản và hình ảnh phức tạp dạng phi cấu trúc. Dữ liệu văn bản lâm sàng được diễn đạt bằng ngôn ngữ tự nhiên. Dữ liệu văn bản lâm sàng được ghi lại với những câu ngắn, không đầy đủ thành phần, và đôi khi việc phân tách trong câu thường không rõ ràng.
Nội dung văn bản lâm sàng thường được hình thành trong thời gian ngắn do áp lực ghi nhận trên thực tế của các BAĐT này. Do đó, thường văn bản lâm sàng có nhiều từ viết tắt và lỗi chính tả. Đôi khi, văn bản lâm sàng được viết với nhiều dạng khác nhau của các từ-ngữ y khoa. Dữ liệu văn bản lâm sàng trong các BAĐT này có thể có thông tin riêng của bệnh nhân.
Với một số đặc điểm như trên, các BAĐT sẽ tạo khó khăn cho việc xử lý tự động và chia sẻ dữ liệu, chính vì thế việc chuẩn bị các bệnh án điện tử (BAĐT) cho các xử lý, phân tích, và khám phá tri thức sau này từ các BAĐT là rất quan trọng. Việc rút trích và thay đổi các thông tin riêng tư của bệnh nhân trong các ghi chú được ghi nhận với ngôn ngữ tự nhiên trong các BAĐT để đảm bảo các bệnh nhân tương ứng không thể được xác định khi các BAĐT của họ được xử lý ở các giai đoạn sau đó. Vì vậy đây chính là nội dung của đề tài luận văn này. Để chuẩn bị cho đề tài, những nội dung sau đã được tìm hiểu: Tìm hiểu các nội dung (mục thông tin) cần được xác định và thay thế (lọc) trong các BAĐT dựa trên HIPAA (the Health Insurance Portability and Accountability Act, the USA http://www.gov/hipaa/) và các mở rộng ở cuộc thi của i2b2 (Informatics for Integrating Biology and the Bedside https://www.org/) Tìm hiểu một số hệ thống lọc thông tin riêng theo các hướng tiếp cận khác nhau trong các BAĐT tiếng Anh Tìm hiểu một số phương pháp lọc thông tin riêng trong các BAĐT được ghi nhận trong các ngôn ngữ khác nhau như: Anh, Thụy Điển, Pháp, Hàn, … Trang 6 Tìm hiểu các phương pháp lọc thông tin riêng trong các BAĐT tiếng Anh tiêu biểu từ 1996 đến nay Các phương pháp lọc thông tin riêng đã phổ biến cách đây hơn 20 năm, từ năm 1995 đã giới thiệu các hệ thống có thể tự động lọc thông tin riêng, sau này được phát triển dành riêng cho bệnh án điện tử.
Nhưng cho tới tận ngày nay, việc lọc thông tin riêng vẫn là bài toán chưa được giải quyết hoàn toàn, còn rất nhiều việc cần phải làm [28]. Đề tài đóng góp một hướng giải quyết mới cho lĩnh vực y tế này: phương pháp tiếp cận lai sử dụng kỹ thuật học bán giám sát để lọc thông tin riêng trong bệnh án điện tử. Ở đây kỹ thuật học bán giám sát là hoàn toàn mới và giải quyết vấn đề thiếu dữ liệu ban đầu trong thực tế. Mục tiêu nghiên cứu Xây dựng một mô hình lọc thông tin riêng cho BAĐT mà có thể linh động áp dụng được cho các loại ngôn ngữ khác ngoài tiếng Anh.
Đề tài sẽ tập trung tìm hiểu 2 hệ thống độc lập có khả năng lọc thông tin riêng là học máy và tập luật. Kết hợp 2 hệ thống này để phát triển thành hệ thống sử dụng phương pháp lai mà ở đó phát huy từng ưu điểm của từng hệ thống nhằm tối đa hóa giá trị đạt được. Cụ thể là dựa vào chỉ số RECALL và PRECISION để quyết định độ thành công của hệ thống. Phạm vi đề tài: - Dữ liệu dùng cho tiếng Anh để hiện thực hóa kỹ thuật được lấy tại cuộc thi i2b2 năm 2006 tại website https://www.
Ý nghĩa khoa học Cho vấn đề lọc thông tin riêng trong các bệnh án điện tử, hiện nay, đã có 2 cuộc thi dành riêng cho lĩnh vực lọc thông tin riêng do i2b2 tổ chức năm 2006 và 2014. Các công trình dự thi ở 2 năm này đạt được kết quả rất khả quan, tuy nhiên vẫn chưa thật sự đủ hiệu quả để các phương pháp lọc thông tin có thể được đưa vào sử dụng trong thực tế như được nhận định trong công trình [28]. Do đó, vấn đề lọc thông tin riêng trong các bệnh án điện tử ngày nay vẫn được xem là chưa được giải quyết mặc dù có rất nhiều công trình được phát triển và giới thiệu trên thế giới. Trang 7 Hiện nay hầu hết các tiếp cận đều là các tiếp cận lai, nghĩa là kết hợp giữa phương pháp dựa trên học máy và phương pháp dựa trên quy tắc, so trùng mẫu và khai thác từ điển.
Một số công trình ban đầu được phát triển cho bài toán này như [13, 29] hay được phát triển cho tập BAĐT thuộc ngôn ngữ khác ngôn ngữ tiếng Anh như [11, 17, 27] đều bắt đầu với hướng tiếp cận dựa trên quy tắc. Với hướng tiếp cận dựa trên học máy trong hầu hết các công trình khác, việc rút trích đặc trưng và chuẩn bị tập dữ liệu huấn luyện và kiểm tra là việc khó khăn để không hạn chế tính tổng quát hóa của giải pháp khi áp trên nguồn dữ liệu khác. Do đó, giải pháp lai kết hợp hai hướng tiếp cận này là xu thế hiện diện trong những công trình gần đây như được đề xuất bởi các công trình [7, 21, 34] dự thi ở i2b2 2014. Vậy về mặt khoa học, đề tài muốn đóng góp một hướng tiếp cận lai giữa học máy và phương pháp dựa trên quy tắc để giải quyết bài toán lọc thông tin riêng trong bệnh án điện tử mà ở đó khả năng mở rộng cho các ngôn ngữ khác ngoài tiếng Anh, và cơ sở dữ liệu đầu vào còn chưa đủ nhiều, dùng kỹ thuật học bán giám sát.
Ý nghĩa thực tiễn Đối với việc lọc thông tin riêng cho các BAĐT, hiện nay chưa có giải pháp nào được phát triển và áp dụng rộng rãi, có thể thấy được điều này ở Việt Nam. Danh sách các loại thông tin cần được che dấu cho bệnh nhân chưa được xem xét và chỉ định cụ thể. Do đó, giải quyết vấn đề lọc thông tin riêng cho các BAĐT là một vấn đề cấp thiết và nhiều khó khăn. Mong muốn của đề tài này là cần giải quyết bài toán lọc thông tin riêng cho các BAĐT mà không phục thuộc vào ngôn ngữ và tập dữ liệu ban đầu.
Ngoài ra, trong thực tế, sẽ có rất nhiều trường hợp mà các bệnh án điện tử sẽ được chia sẻ cho các đơn vị ngoài y tế nhằm phục vụ cho nghiên cứu, học tập, hay dự báo những vấn đề liên quan tới các loại bệnh. Để làm được điều này, trong mỗi bệnh án điện tử cần phải che giấu những thông tin của bệnh nhân hoặc những thông tin mà ở đó có thể truy xuất ra thông tin của bệnh nhân nhằm đảm bảo tính pháp lý. Đây là một ý nghĩa thực tiễn mà đề tài hướng tới. Trang 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Để lọc thông tin riêng trong bệnh án điện tử hướng tiếp cận lai bằng việc kết hợp học máy và so trùng mẫu dựa trên quy tắc là một hướng tiếp cận phổ biến và phù hợp cho bài toán này.
Lí do của việc kết hợp này là giúp nhận diện đúng các mẫu thông tin riêng (protected health information, PHI) với học máy và sau đó là giúp nhận diện các mẫu thông tin riêng PHI còn sót lại với so trùng mẫu dựa trên quy tắc. Ngoài ra, nhằm hướng tới việc cơ sở dữ liệu ban đầu thiếu và ít nên cũng xem xét hướng tiếp cận học bán giám sát (semi-supervised learning approach) thay vì phương pháp học có giám sát (supervised learning approach) truyền thống trong các công trình liên quan. Hướng tiếp cận bán giám sát có thể giúp giảm tải việc chú thích ban đầu cho tập dữ liệu huấn luyện dùng để xây dựng mô hình học máy. Ngoài ra, hướng tiếp cận bán giám sát còn hỗ trợ việc xử lý dữ liệu gia tăng trong tương lai và làm giàu cho tập dữ liệu huấn luyện dùng để cải thiện hiệu quả của mô hình học máy hiện tại.
Với ý tưởng bước đầu của giải pháp cho bài toán này với hướng tiếp cận lai giữa phương pháp học máy bán giám sát và so trùng mẫu dựa trên quy tắc, sau đây sẽ giới thiệu cơ sở lý thuyết của học máy, so trùng mẫu dựa trên quy tắc, học bán giám sát. Học máy với mô hình CRFs. Khái niệm học máy được định nghĩa như sau: - Với một tập dữ liệu vũ trụ X. - Một tập số mẫu S, cho S là tập con của X.
- Một số hàm đích sao cho f: X -> [đúng,sai] - Một tập huấn luyện D được gán nhãn, 𝐷 = {(𝑥, 𝑦)|𝑥 ∈ 𝑆 ∪ 𝑦 = 𝑓 (𝑥)} - Tính ra hàm 𝑓 ′ : 𝑋 → [đú𝑛𝑔, 𝑠𝑎𝑖 ] bằng cách sử dụng D như sau : 𝑓 ′ (𝑥) ≅ 𝑓(𝑥) cho tất cả x thuộc X. Có nhiều hàm học máy như mô hình MARKOV ẩn-HMM, mô hình cực đại hóa ENTROPY-MEMM hay mô hình xác suất có điều kiện-CRF. Trong đó CRF giải quyết được bài toán mà các mô hình khác gặp phải là label alias, là trạng thái mà chuỗi quan sát được chọn sai nhưng học máy không phát hiện được. Qua cả thực nghiệm và tìm hiểu được thì CRF xuất hiện lỗi thấp hơn 2 mô hình còn lại.
Bằng chứng là ở cuộc thi i2b2 khi sử dụng học máy có 2 mô hình được sử dụng nhiều đó là SVM (học máy hỗ trợ vector) và CRF thì CRF được sử dụng phổ biến hơn cả. Giới thiệu mô hình CRFs CRF (conditional random fields) được giới thiệu vào những năm 2001 bởi Lafferty và các đồng nghiệp [33]. CRF là mô hình dựa trên xác suất có điều kiện, thường được sử dụng trong gán nhãn và phân tích dữ liệu tuần tự. CRF là mô hình đồ thị vô hướng, điều này cho phép CRF có thể định nghĩa phân phối xác suất của toàn bộ chuỗi trạng thái với điều kiện biết chuỗi quan sát cho trước thay vì phân phối trên mỗi trạng thái với điều kiện biết trạng thái trước đó và quan sát hiện tại.