Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG HỌC SINH BỎ HỌC TRONG CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Phát triển giáo dục và đào tạo được xác định là chiến lược lâu dài cho phát triển bền vững của đất nước. Một số nước đặt giáo dục là nhiệm vụ trọng tâm trong từng thời kỳ phát triển, để tạo ra nguồn lực chất lượng cao không chỉ cho hiện tại mà còn định hướng cho sự phát triển tương lai của quốc gia đó. Chỉ số HDI (Human Development Index) về chất lượng cuộc sống cũng lấy tỉ lệ người biết chữ làm tiêu chí đo lường nhằm đánh giá mức độ phát triển toàn diện của một quốc gia bên cạnh GDP bình quân đầu người và tuổi thọ trung bình.
Ở các nước phát triển như Anh, Đức, Nhật tỷ lệ trẻ em đến trường thường đạt rất cao trên 95%, các nước chậm phát triển, có thu nhập thấp tỷ lệ trẻ em học xong trung học cơ sở cũng rất thấp, khoảng 80%. Nghiên cứu của UNICEF (2010) chỉ ra rằng “Trong khi tỷ lệ nhập học ngày càng được cải thiện thì việc học sinh bỏ học đang là một trong những vấn đề mà hầu như tất cả các nước đang phát triển phải đối mặt”. Điều này không những ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của việc phổ cập hóa giáo dục mà còn là một sự lãng phí nguồn lực và làm tăng số người mù chữ. Chính sách giáo dục liên quan đến chính sách phát triển kinh tế, chính sách dân số của một quốc gia.
Hầu hết các quốc gia đều phải đối mặt với tình trạng học sinh bỏ học trong nhiều giai đoạn khác nhau, điều này đã trở thành đề tài của nhiều nhà nghiên cứu nhằm tìm ra những biện pháp thiết thực cho ngành giáo dục của quốc gia đó để khắc phục được tình trạng học sinh bỏ học [23]. Okumu, Ibrahim M, Naka Jo, Alex anh stoke, Doren (2008) Đã phân tích các yếu tố kinh tế xã hội dẫn đến quyết định học sinh bỏ học ở Uganda. Các nhà nghiên cứu đã thiết lập một mô hình hậu cần để phân tích các số liệu quốc gia vào năm 2004, phân tích theo độ tuổi, theo giới tính của học sinh ở nông thôn và thành thị. Kết quả phân tích cho thấy các biến số như giới tính, tổng số tiền chi trả cho học phí không có ý nghĩa tác động đến học sinh bỏ học.
Nhưng các biến số như quy mô gia đình, trình độ học vấn của cha mẹ, loại hình hoạt động kinh tế của các thành viên hộ gia đình, 6 đặc biệt là ở những vùng nông thôn đã có những tác động quan trọng đối với cơ hội tiếp tục học tập hoặc tỷ lệ bỏ học của học sinh. Thậm chí Robert Balfanz and Nettie Legters (2004) còn chỉ ra rằng những vùng, miền có tỷ lệ học sinh bỏ học cao thường là những trường yếu về năng lực, có nhiều học sinh dân tộc thiểu số và kết quả học tập của trường thông thường kém ở những môn Toán, Văn.Những trường này thường là những trường được đặt ở các vị trí mà cộng đồng xung quanh có trình độ học vấn không cao, điều kiện kinh tế khó khăn [23]. Nghiên cứu về tình trạng bỏ học của học sinh Ấn Độ trên cơ sở thống kê khá đầy đủ theo từng năm và theo các đặc điểm kinh tế xã hội cơ bản như đô thị, nông thôn, giới tính và đã áp dụng phân tích theo đoàn hệ để chỉ ra xu hướng và số bỏ học theo từng nhóm tuổi và từng lớp học. Kết quả nghiên cứu cho thấy với quy định giáo dục bắt buộc và miễn phí cho tất cả trẻ em đến 14 tuổi theo hệ thống giáo dục của Ấn Độ, đến giữa năm 1978 số học sinh từ lớp 6-8 khoảng 18 triệu gấp gần 6 lần so với số học sinh cùng cấp năm 1950, khoảng 11% học sinh bỏ học ơ thời điểm năm 1978.
Nghiên cứu chỉ ra rằng đa số học sinh bỏ học là những học sinh lưu ban điều đó cho thấy kết quả học tập thấp cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến bỏ học. Vấn đề này đòi hỏi xem xét những yếu tố liên quan đến giảng dạy như chất lượng giáo viên, chương trình học, những điều kiện cơ sở hạ tầng. Một phát hiện trong nghiên cứu này là trẻ em gái bỏ học nhiều hơn trẻ em trai, điều này cũng chỉ ra mối liên hệ giữa tỉ lệ bỏ học và giới [23]. Ở khu vực nông thôn, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra khoảng sáu mươi nguyên nhân dẫn việc bỏ học trong đó có các nguyên nhân chủ yếu là: Nghèo khổ, tình trạng mù chữ của bố mẹ có tác động lớn đến việc bỏ học của trẻ em; Chương trình giảng dạy chưa phù hợp, thiếu phương tiện giảng dạy; Học sinh bỏ học do gia đình có thu nhập thấp, bố mẹ thất nghiệp hoặc nghề nghiệp không ổn định, nhà ở xa trường, không thích học.
Những nguyên nhân này liên quan đến những rào cản về kinh tế xã hội và có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau (Barton, 2006; Barsaga, 1995) [23]. Các yếu tố tác động đến học sinh bỏ học được nghiên cứu khá nhiều trên thế giới. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng vấn đề bỏ học sớm của học sinh liên quan đến trình độ phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia, từ những chính sách về kinh tế, dân số, nhân khẩu đều ảnh hưởng đến việc bỏ học của học sinh. Những nghiên cứu ở Việt Nam Về tình trạng học sinh bỏ học ở Việt Nam đã có nhiều tác giả nghiên cứu, có thể phân thành các nhóm sau: * Nghiên cứu về quan điểm lý luận chung có tác giả: Phạm Thanh Bình [2], Đặng Thành Hưng [21], Đặng Vũ Hoạt [20], Trần Kiểm [24], Trương Công Thanh [34], Thái Duy Tuyên [39].
Nhìn chung các tác giả đều đề cập đến bản chất và các nguyên nhân dẫn đến tình trạng lưu ban bỏ học; các nguyên nhân dẫn đến tình trạng lưu ban, bỏ học: Nguyên nhân từ phía nhà trường, gia đình, xã hội và bản thân học sinh. Từ đó đề xuất các biện pháp khắc phục từ phía nhà trường, gia đình, xã hội và bản thân học sinh. * Các nghiên cứu tâm lý học, giáo dục học liên quan đến hiện tượng học sinh bỏ học có các tác giả: Võ Thị Minh Trí [5]; Nguyễn Hữu Chùy [9], Trần Kiểm [24], Lê Đức Phúc [28]. các tác giả đã khảo sát đặc điểm tâm lý của học sinh học kém, lưu ban, thử nghiệm tổ chức học riêng cho học sinh học kém, trên cơ sở đó đề ra các biện pháp khắc phục học kém nhằm ngăn ngừa hiện tượng bỏ học.
* Nhóm nghiên cứu thực tiễn: Theo báo Giáo dục và Thời đại số 154 tháng 9/2010 với trang tin “15 tỉnh miền núi phía Bắc quyết tâm kéo giảm tỉ lệ học sinh bỏ học” trong đó đã chỉ ra nguyên nhân học sinh bỏ học chủ yếu ở các tỉnh này là do: Năng lực chuyên môn, ý thức trách nhiệm của một bộ phận giáo viên nhất là giáo viên chủ nhiệm chưa cao; các em bị hổng kiến thức từ lớp dưới; chất lượng đầu vào thấp và không đồng đều; do bị lưu ban nên xấu hổ với bạn bè; gia đình neo người lên ở nhà làm nương khi vào mùa vụ; phụ huynh không quan tâm đến việc học hành của con cái. Năm 2008 Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã có công trình khoa học nghiên cứu về tình trạng học sinh phổ thông bỏ học ở 4 tỉnh Hà Giang, Nghệ An, Đắk Lắk, Trà Vinh- thực trạng và giải pháp khắc phục do Nguyễn Hữu Châu làm chủ nhiệm đề tài nhằm góp phần nhìn nhận, đánh giá, đưa ra các biện pháp để hạn chế tình trạng học sinh của các tỉnh nói trên cũng như của cả nước [42]. Tập trung giải quyết “điểm nóng” tại buổi họp báo định kỳ tháng 3 năm 2008 của Bộ GD&ĐT tổ chức ở Hà Nội ngày 12 tháng 3 năm 2008 do Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân chủ trì, Bộ GD&ĐT đã dành phần lớn thời gian để nói về vấn đề học sinh bỏ học và biện pháp khắc phục. Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo 8 cho biết, tổng số học sinh bỏ học trên cả nước hết học kì I năm học 2007-2008 là gần 119.000 học sinh từ tiểu học đến trung học phổ thông.
Tình trạng học sinh bỏ học được lý giải bằng nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân nhiều địa phương do điều kiện kinh tế khó khăn chưa quan tâm tới giáo dục, học sinh học yếu kém không theo kịp chương trình nên chán nản bỏ học. Song mấu chốt của vấn đề chính là việc phối hợp, quan tâm của gia đình, nhà trường và xã hội. Để khắc phục tình trạng này Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra một số giải pháp: Ngành giáo dục và đào tạo tăng cường rà soát, phân loại học sinh yếu kém để tùy theo đối tượng có biện pháp bồi dưỡng, giúp đỡ kịp thời. Biên soạn lại tài liệu dạy học phù hợp với học sinh khó khăn.
Nội dung dạy học sẽ được tinh giản, thiết thực, cơ bản để học sinh có thể học được. Ngành giáo dục và đào tạo các tỉnh có tỷ lệ học sinh bỏ học nhiều nhất tập trung phối hợp với chính quyền địa phương và các lực lượng xã hội khác tìm mọi cách huy động các em trở lại trường. “Những địa phương làm tốt việc chống học sinh bỏ học, hạn chế học sinh yếu kém cần được giới thiệu biểu dương kịp thời”. Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh.
Nghiên cứu của Đặng Thị Hải Thơ thuộc tổ chức UNICEF tại Việt Nam (Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc), “Nghiên cứu về nguyên nhân bỏ học của trẻ em Việt Nam, Hà Nội tháng 11 năm 2010 các nhân tố tác động và định hướng giải pháp”[40]. Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển, Trần Xuân Nhĩ cũng đã có những ý kiến đóng góp trong việc chỉ ra nguyên nhân và kiến nghị một số biện pháp nhằm ngăn ngừa, khắc phục tình trạng bỏ học của học sinh phổ thông. Ngành Giáo dục tỉnh Lào Cai cũng như các tỉnh khác trong khu vực đã có nhiều giải pháp khắc phục tình trạng học sinh bỏ học, tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân được tham gia học tập.