chương I, Quyết định 64/2001/QĐ/TTg ngày 26/4/2001 của Thủ tướng Chính phủ, nguồn vốn viện trợ PCPNN được hiểu là nguồn vốn viện trợ không hoàn lại và trợ giúp không vì mục đích lợi nhuận của các tổ chức PCPNN, các tổ chức khác, và cá nhân người nước ngoài, k i cả người bản xứ định cư ở nước ngoài hỗ trợ cho các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức nhân dân (bao gồm các đoàn th ể quần chúng, các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức xã hội-nghề nghiệp và m ột sô' tổ chức khác ) giúp một quốc gia thực hiện các mục tiêu nhãn đạo và phát triển dành cho quốc gia đó. Sự ra đời và phát triển của nguồn vốn viện trợ PCPNN Hoạt động nhân đạo và từ thiện đã có từ rất lâu trong lịch sử nhân loại, nó gắn với con người có ý thức, với những tín điều thiêng liêng. Phương Đông và Phương Tây, nhà thờ và đền chùa, Thiên Chúa Giáo, Phật Giáo và Hồi Giáo gặp nhau ở khái niêm thiện và ác, khuyến khích điều lành, ngăn ngừa điều dữ. Nhiều bộ lạc từ xa xưa đã có quy ước vụ thu hoạch đầu tiên phải dành cho các chức sắc tôn giáo và người nghèo.
Ông bụt, bà tiên, chuyện Tấm Cám ở Phương Đông, ông già Noel và cô bé Lọ Lem ở Phương Tây đều thể hiện những ước mơ chung vể cái Thiện. 10 Hơn bất cứ lĩnh vực nào, hoạt động nhân đạo và từ thiện mang tính chất Nhà Nước và nhân dân cùng làm [15, tr.9] Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, hoạt động từ thiện nhân đạo cũng được tiến hành bởi cả Chính Phủ và dân chúng. Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, sự phân hoá giàu và nghèo ngày càng gay gắt, tệ nạn xã hội ngày một phát triển, cuộc sống của người dân nghèo ngày càng khó khăn hơn. Những người xã hội không tưởng là những người đầu tiên nêu ra ý tưởng xoá bỏ bất công xã hội, giúp đỡ nạn nhân của chủ nghĩa tư bản [15, tr.lO] Năm 1516, Thomas More (1478-1535) cho ra đời cuốn sách Utopia, tên một hòn đảo tưởng tượng, nơi có một hệ thống chính trị xã hội hoàn hảo.
Tuy đó chỉ là ảo vọng nhưng họ đã để lại cho nhân loại những di sản quý báu: mô hình của một xã hội tốt đẹp và những cơ sở của nhân quyền, bác ái tương lai. Nhà tế bần, nhà nuôi trẻ mồ côi, viện dưỡng lão, lớp dạy nghề đã được gieo mầm từ những đầu óc không tưởng và đã được các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học Mác, Ảnggen cũng như đã được Lê Nin, Hồ Chí Minh nhân lên sau này trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Cả trong xã hội tư bản, dân chúng cũng thành lập nhiều cơ sở phúc lợi xã hội và đấu tranh để chính phủ quan tâm đến những vấn đề xã hội [15, tr.10-11] Như vậy, loại hình hoạt động tình nguyện cứu trợ nhân đạo, từ thiện đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử nhân loại, không phải là sản phẩm độc quyền của bất cứ quốc gia, xã hội, chế độ nào. Nó là tài sản của loài người, xuất phát từ thiên chức của con người, từ ý nguyện của nhân dân, từ tiến bộ xã hội.
Đặc điểm của nguồn vốn viện trợ PCPNN - Là nguồn vốn viện trợ không hoàn lại: 11 Viện trợ PCPNN là hình thức viện trợ không hoàn lại (100%) và trợ giúp không vì mục đích lợi nhuận của các tổ chức PCPNN, các tổ chức khác hoặc các cá nhàn, kể cả người Việt Nam ở nước ngòai hỗ trợ các tổ chức hoặc địa phương trons nước. Như vậy có thể thấy hình thức viện trợ này khác biệt với hình thức viên trợ ODA vì ODA bao gồm cả viện trợ không hoàn lại và các khoản tín dụng ưu đãi (cho vay dài hạn và lãi suất thấp) hay còn gọi là viện trợ có hoàn lại. Ngòai ra, viện trợ PCPNN được ký kết với các tổ chức hoặc cá nhân ở nước ngòai không thông qua các hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam với các Chính phủ khác như trong hình thức viện trợ ODA. - Là nguồn vốn viện trợ không vì mục đích lợi nhuận mà vì mục tiêu nhân đạo và hỗ trợ phát triển.
Đây cũng có thể coi là một đặc điểm chung của nguồn vốn viện trợ PCPNN và ODA. Theo cách hiểu chung nhất thì ODA là tất cả các khoản hỗ trợ không hoàn lại và các khoản tín dụng ưu đãi (cho vay dài hạn và lãi suất thấp) của Chính Phủ nước ngoài, các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia. Theo một số tài liệu cũ thì ODA thậm chí còn có thể được thực hiện bởi các TCPCPNN. Trước đây, ODA được coi là một nguồn viện trợ ngân sách của các nước phát triển dành cho các nước đang phát triển và kém phát triển.
Theo quan điểm này, ODA mang tính chất viện trợ là chính. Ngày nay, ODA được coi là hình thức hợp tác phát triển của các nước đã công nghiệp hoá và các tổ chức Quốc Tế đối với các nước đang phát triển. Như vậy, ODA và nguồn vốn viện trợ PCPNN còn có điểm chung là giúp một quốc gia thực hiện các mục tiêu nhân đạo và phát triển [11, tr. 7] - Khả năng đáp ứng nhanh: Đây là một trong những đặc điểm ưu việt của nguồn vốn viện trợ PCPNN mà ODA chưa có được.
Các TCPCPNN có khả năng đáp ứng nhanh đối với nhu cầu mới nảy sinh do chúng tương đối nhỏ và tự chủ, và có liên hệ trực tiếp với cấp cơ sờ. Khả 12 năng này đặc biệt quan trọng trong các tình huống khẩn cấp. Chẳng hạn trong vòng 30 ngày, lũ lụt ở miền Trung Việt Nam năm 1999, 50 TCPCPNN đã huy động tập thể được 3,5 triệu USD để cứu trợ khẩn cấp, xây dựng lại và phát triển ở những vùng bị thiệt hại nặng nhất (Nguồn p ACCOM năm 2000) [11, tr. 7] - Tính sáng tạo& chủ động: Đây có thể coi là đặc điểm chung của nguồn vốn viện trợ PCPNN và nguồn vốn ODA.
Các TCPCPNN thường thử nghiệm các phương pháp tiếp cận mới và sử dụng phương pháp luận mới trong công tác dự án. Các sáng kiến này tạo ra các bài học vô giá cho các nhà tài trợ cũng như cho các TCPCPNN và đối tác khác. Có thể thấy nhiều thành công ở các dự án nhỏ, sau đó được nhân rộng ra cho một quốc gia, các quốc gia trong khu vực và trên thế giói. Làm việc một cách sáng tạo, các TCPCPNN có thể đưa ra các giải pháp thích hợp cho điều kiện ở địa phương, không chỉ dừng ở những điều học hỏi từ số liệu thống kê.
Do hoạt động ở cấp huyện, xã hoặc thôn bản, họ thường xác định được phần nào của dự áp có thể nhân rộng được và phần nào cần nghiên cứu thêm và điều chỉnh để áp dụng có hiệu quả ở nơi khác. Điều này không chỉ cho phép các sáng kiến và dự án có thể thành công, mà còn cho phép các TCPCPNN đưa các thông điệp và quan sát thực tiễn lên cấp độ chính sách một cách nhanh chóng và đáng tin cậy[ 11, tr.7] - Tính linh hoạt: Đây có thể được coi là một đặc điểm riêng của nguồn vốn viện trợ PCPNN. Trong bối cảnh các TCPCPNN đều có những mối quan tâm định trước như về giới, công bằng, và huy động sự tham gia, các chương trình và dự án của TCPCPNN phần lớn dựa vào đặc thù của từng địa phương và thích ứng với những đặc thù đó. Phối hợp chặt chế với các đối tác và người hưởng lợi, các TCPCPNN có thể đáp ứng nhu cầu trong suốt chu kỳ của chương trình.
Ngoài ưu điểm về mối liên hộ trực tiếp với người dân và đối tác địa phương, quy mô các dự án PCPNN thường nhỏ, đã giúp điểu chỉnh dự án và các chương trình nhanh chóng cho phù hợp [11, tr. 7] 13 - Mang tính định hướng đối tượng: Và đây lại là một đặc điểm riêng có của nguồn vốn PCPNN. Những đối tượng được các TCPCPNN tập trung quan tâm là những người nghèo, cô đơn, bệnh tật, phụ nữ, trẻ em, người dân ở các vùng xa, vùng sâu không hoặc ít được tiếp cận với các hỗ trợ và dịch vụ xã hội cơ bản. Các TCPCPNN được chuẩn bị đặc biệt tốt để thiết kế các chương trình và dự án nhằm đúng đối tượng và đáp ứng nhu cầu của bộ phận dân cư này [11.
Phân loại nguồn vốn viện trợ PCPNN Căn cứ vào hình thức thực hiện, viện trợ PCPNN được phân loại thành: - Viện trợ thông qua các dự án, chương trình: Viện trợ thông qua “Dự án” là viện trợ thông qua tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu cụ thể được thực hiện trong một thời hạn nhất định, dựa trên những nguồn lực xác định. Viện trợ thông qua “chương trình” là một tập hợp viện trợ thông qua các dự án liên quan đến nhau, liên quan đến nhiều ngànhkinh tế kỹ thuật, nhiều vùng lãnh thổ, nhiều chủ thể khác nhau, cần được thục hiện thông qua phương pháp tiếp cận liên nghành, thời hạn thực hiện tương đối dài và phương tiện để thực hiện cần được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, theo những phương thức khác nhau. “Văn kiện chương trình, dự án viện trợ PCPNN” là tài liệu chính thức thể hiện cam kết giữa đại diện của bên Việt Nam và đại diện của bên tài trợ về một chương trình hoặc một dự án cụ thể, trong đó xác định rõ: mục tiêu, các hoạt động, các kết quả 14 cần đạt được, nguồn lực được sử dụng, thời hạn và kế hoạch thực hiện, nghĩa vụ, quyến lợi và trách nhiệm của các bên có liên quan. - Viện trợ phi dự án (bao gồm cả khoản cícn trợ khẩn cấp) “Viện trợ phi dự án” là các khoản viện trợ không thuộc chương trình, dự án, cung cấp viện trợ dưới dạng hiện vật (hàng hoá, vật tư, thiết bị), tiền mặt hoặc chuyên gia (kể cả chuyên gia tình nguyện) cho các mục đích nhân đạo, từ thiện.
“Cứu trợ khẩn cấp” là khoản viện trợ thuộc viện trợ phi dự án được thực hiện khẩn trương ngay sau khi xảy ra các trường hợp khẩn cấp (thiên tai, hoặc các tai hoạ khác) và kéo dài tối đa là hai tháng sau khi các trường hợp khẩn cấp chấm dứt. Sau thời hạn trên, nếu khoản cứu trợ này vẫn được tiếp tục thì được coi là viện trợ khắc phục hậu quả sau khẩn cấp [9, tr. Cơ chê hoạt động gáy quỹ của các tổ chức PCPNN Cơ chế gây quỹ của các TCPCPNN rất đa dạng. Một số tổ chức có được hợp đồng hoặc tài trợ từ ngân sách nhà nước.