chương 1, luận văn tiến hành đánh giá thực trạng huy động vốn thông qua phát hành TPCP tại KBNN hiện nay nhằm đánh giá những kêt quả đạt được trong những năm qua, đồng thời phát hiện những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân trong việc phát hành TPCP. Những kết quà đat đươc: Thứ nhất, khối lượng vốn huy động được trong 5 năm từ 2011 - 2015 thông qua KBNN là 865.009,6 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 40%/năm được đánh giá có mức tăng trưởng dẫn đầu các nền kinh tế mới nổi ở Đông Á. Vll Trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng, tăng trưởng kinh tế chậm, sản xuất kinh doanh đình trệ, thu ngân sách đạt thấp, KBNN đã nỗ lực cố gắng hoàn thành 100% nhiệm vụ huy động vốn được giao, đảm bảo nguồn cho NSNN thực hiện các nhu cầu đầu tư, an sinh xã hội và giải ngân các công trình, dự án theo đúng chỉ đạo của Quốc hội và Chính phủ giao. Thứ hai, về phương thức tổ chức phát hành trái phiếu Chính phủ đã có những bước cải tiến mới, tập trung phát hành TPCP theo phương thức đấu thầu, không tổ chức phát hành theo hình thức bán lẻ, thí điểm thành công và triển khai phát hành trái phiếu theo lô lớn, quy mô 1 mã tăng từ 2.000 tỷ đồng lên 6.000 tỷ đồng, số mã được tinh giảm từ 300 mã xuống còn 118 mã, thực hiện công bố kế hoạch phát hành hàng năm, quý, công khai lịch biểu, duy trì đối thoại với thành viên thị trường thông qua các phiên họp bảo lãnh và hội nghị thành viên hàng năm, từng bước công khai hoá thông tin trên website của Bộ Tài chính, website của Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội.
Điều đó cho thấy công tác phát hành TPCP đã ngày càng chuyên nghiệp hơn, hướng theo các thông lệ tốt trên thế giới. Thứ ba, các loại trái phiếu với kỳ hạn khác nhau được phát hành đa dạng để đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư, trong đó trái phiếu kỳ hạn dài (trên 5 năm) ngày càng chiếm tỷ trọng cao. Trong năm 2012 và 2013, KBNN đã duy trì việc phát hành TPCP kỳ hạn 10 năm để thu hút nguồn vốn dài hạn của các công ty bảo hiểm và các quỹ đâu tư. Từ cuối năm 2013 KBNN đã phát hành thêm loại trái phiếu kỳ hạn 15 năm nhằm kéo dài kỳ hạn trung bình của TPCP, giảm áp lực trả nợ của NSNN trong ngắn hạn.
Kỳ hạn bình quân của danh mục trái phiếu đã tăng từ 2,82 năm vào năm 2012 lên mức 3,2 năm vào năm 2013. Điều đáng ghi nhận là TPCP đã góp phần đáp ứng được nhu cầu đầu tư đa dạng của công chúng và tạo điều kiện cho NSNN chủ động hơn trong việc sử dụng vốn vay và bố trí nguồn trả nợ. Thứ tư, từng bước chuẩn hoá các thành viên đấu thầu: Từ năm 2013, Bộ Tài chính đã thống nhất ban hành danh sách thành viên thị trường đấu thầu và rút gọn số lượng thành viên đấu thầu TPCP còn 36 đơn vị, từ năm 2014 còn 26 đơn vị; đồng thời quy định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên đấu thầu để đánh V lll giá xếp hạng các thành viên vào cuối năm, từ đó tạo tiền đề để thành lập hệ thống nhà tạo lập thị trường trong những năm tiếp theo. Những han chế: Một là, việc xây dựng kế hoạch về nhu cầu vốn chưa chú trọng đến khả năng cung cầu vốn trên thị trường mà chủ yếu dựa vào nhu cầu vốn bù đắp bội chi NSNN; kế hoạch huy động thường xuyên bị điều chỉnh dẫn đến ảnh hưởng đến việc xây dựng kế hoạch và cân đối bố trí nguồn vốn đầu tư của các thành viên thị trường và các nhà đầu tư trái phiếu Chính phủ.
Hai là, cơ cấu nhà đầu tư trên thị trường còn rất hạn chế, chưa đa dạng, chủ yếu là các NHTM (chiếm khoảng 86% dư nợ TPCP), thiểu cơ cấu nhà đầu tư là các quỹ (quỹ hưu trí, quỹ đầu tư, công ty chứng khoán,.), do đó việc phát hành trái phiêu kỳ hạn dài gặp nhiêu khó khăn. Bên cạnh đó, kinh tế vĩ mô trong những năm gần đây còn tiềm ẩn nhiều rủi ro dẫn đến các nhà đầu tư thiếu niềm tin đầu tư vào trái phiếu dài hạn. Trên thị trường trái phiếu hiện nay, tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội mới có. thành viên tham gia đấu thầu, song số lượng thành viên tham gia thường xuyên khong nhiêu đã gây khó khăn cho cho các thành viên đâu thâu tích cực trong việc tìm kiếm khách hàng, gia tăng lợi nhuận từ nguồn phí đấu thầu.
Các doanh nghiệp hầu hết chưa tham gia với mục đích quản lý vốn khả dụng một cách linh hoạt. TPCP phần lớn được phát hành thông qua hình thức đấu thầu hoặc bảo lãnh phát hành đều được các NHTM, công ty bảo hiểm nắm giữ cho tới khi đáo hạn. Các tổ chức này mua TPCP nhằm mục đích giải quyết tình trạng ứ đọng vốn và cũng như để đầu tư dài hạn. Do vậy, khi chưa cần nguồn vốn cho những phương án đầu tư có hiệu quả hay các mục đích khác, thì các tổ chức này không có nhu cầu bán lại TPCP.
Ba là, chưa xây dựng được hệ thống nhà tạo lập thị trường (PDs): Những năm gần đây, các thành viên tham gia thị trường TPCP đã có sự cải thiện cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, do chưa có cơ chế thực sự khuyến khích được các thành viên nên hiện tại thị trường TPCP vẫn chưa hình thành được hệ thống các nhà ix tạo lập thị trường đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ dẫn dắt và phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ. Bổn là, về kỳ hạn trung bình của danh mục trái phiếu: Nhiệm vụ huy động vốn cho NSNN và cho ĐTPT ngày càng tăng cao, trong khi đó cơ cấu nhà đầu tư chủ yêu là hệ thống NHTM (86%), vì vậy việc huy động trái phiếu kỳ hạn dài gặp nhiều khó khăn. Điều này cho thấy rủi ro tái cấp vốn của NSNN còn rất lớn vì toàn bộ danh mục trái phiếu sẽ cơ bản đến hạn trong 3 năm tới, gây áp lực trả nợ gốc, lãi trong từng năm.
Mục tiêu kỳ hạn trung bình của trái phiếu năm 2015 từ 4 - 6 năm, tuy nhiên hiện nay kỳ hạn trung bình mới đạt khoảng 3,2 năm. Năm là, các sản phẩm trái phiếu Chính phủ chưa đa dạng, ngoài tín phiếu kỳ hạn dưới 01 năm phát hành theo phương thức trả lãi trước, tất cả các loại TPCP có kỳ hạn từ 1 năm trở lên chỉ duy nhất phát hành theo phương thức trả sau, lãi suất cố định 1 năm/1 lần. Sáu là, tính thanh khoản kém, thị trường giao dịch còn chưa phát triển. Thời gian gần đây, các phương thức phát hành trái phiếu đã được đa dạng hơn, tuy nhiên vẫn còn những bất cập trong cơ chế phát hành, nhất là phát hành qua TTGDCK làm ảnh hưởng đến mục tiêu huy động vốn và phát triển thị trường.
Việc xác định lãi suất chỉ đạo đôi khi chưa căn cứ vào tình hình biến động của nền kinh tế không phản ánh xác thực tình hình thị trường. Mặc dù TPCP là loại công cụ tài chính có độ an toàn cao (được bảo đảm băng ngân sách quốc gia), nhưng nó chưa thực sự giữ vai trò chủ đạo trong các giao dịch chứng khoán. Thực tế cho thấy, khối lượng TPCP đã niêm yết là khá lớn, nhưng hoạt động giao dịch lại kém sôi động. Ở nhiều phiên giao dịch không có lệnh đặt mua, bán và không có giao dịch.
Khối lượng giao dịch TPCP trong các phiên có giao dịch cũng rất thấp, trừ những phiên có giao dịch thỏa thuận giữa các nhà đầu tư có tổ chức. Bay la, trai phiêu phát hành chưa có tính chuân mực. Mặc dù số lượng và loại trái phiếu phát hành có xu hướng ngày càng tăng, nhưng phần lớn trái phiếu đã phát hành chưa được chuẩn hóa về mệnh giá, về ngày phát hành và thời gian đáo hạn nên không đủ tiêu chuẩn tham gia thị trường chứng khoán tập trung. Ở các nước phát X triển, tính chuẩn mực của các trải phiếu được phát hành rất cao, ví dụ ở thị trường chửng khoán Mỹ, hầu hết các trái phiếu có mệnh giá thống nhất là 1000 USD.
Một sổ nguyên nhân của những tồn tại trên đó là: Công tác xây dựng kế hoạch chưa tốt dẫn đến hiệu quả thu hút vốn còn thấp, Hệ thống pháp luật còn chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ, Môi trường kinh tế vĩ mô vẫn chưa thuận lợi cho thị trường TPCP phát triển, Thiếu nhà tạo lập thị trường, nhà đầu tư kinh doanh trái phiếu chuyên n gh iệp ,. Luận văn cũng đã tiến hành phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn thông qua phát hành TPCP để làm cơ sở đề xuất những giải pháp khắc phục trong tương lai. Trong chương 3, dựa trên các kết luận rút ra từ chương 2 từ đó luận văn có đề xuất những định hướng cho việc huy động vốn thông qua phát hành TPCP và các giải pháp để thực hiện định hướng đó. Một số giải pháp đề xuất đó là: v ề cơ chế chính sách: Tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý để đảm bảo phù hợp với sự phát triển của thị trường trái phiếu và thông lệ quốc tế.
v ề công tác xây dựng kế hoạch: Nâng cao chất lượng công tác xây dựng kế hoạch huy động vốn là một trong những điều kiện để công tác huy động vốn thông qua phát hành TPCP đạt hiệu quả. Phát triển sản phẩm mới: Phát triển sản phẩm mới là một trong những nhiệm vụ trọng tâm tại Lộ trình phát thị trường trái phiếu Việt Nam. Tăng cường bồi dưỡng và đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ, nâng cao kiến thức của công chúng về lĩnh vực huy động vốn Bên cạnh đề xuất giải phấp, luận văn còn đưa ra một số kiến nghị với Bộ Tài chính và các đơn vị có liên quan để góp phần hoàn thiện công tác huy động vốn thông qua phát hành TPCP tại KBNN hiện nay. TRƯỜNG Đ Ạ■ I HỌC ■ KINH TẾ QUỐC DÂN B 3 ađ * ađ*- NGUYỄN THANH T ủ ANH MỘT SÔ GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN THỐNG QUA PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ TẠI KHO BẠC NHÀ NUỬC VIỆT NAM CHUYÊN NGÀNH: KINH TỂ PHÁT TRIEN LUẬN VÃN THẠC s ĩ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.
NGUYỄN THỊ HOA H À NỘI - 2 0 1 5 1 LỜI MỞ ĐÀU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trái phiếu chính phủ là một công cụ huy động vốn quan trọng của Chính phủ.